vanban.org

Bản án 26/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 14/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Nhật T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử Phạt: Bị cáo Bùi Nhật T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Nhật Thịnh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 26/2021/HS-ST
Ngày: 14/7/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đoạt

Ông Vũ Đức Kiểu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2021. Tại trụ sở TAND huyện Hòn Đất, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 29/6/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Nhật T, sinh năm: 1987

- Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT, chỗ ở hiện nay: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh K.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

T n giáo: Kh ng.

Trình độ văn h a: Lớp 8/12;

Nghề nghiệp: Kh ng.

Họ và tên cha: Bùi Thanh S, sinh năm 1948

Họ và tên m : Nguy n Ngọc H, sinh năm 1958

Anh chị em ruột: g m 03 ngư i, lớn nhất sinh năm 1982, nh nhất sinh năm 1991, bị cáo là ngư i con th hai trong gia đình.

Vợ: Lê Thị Đ, sinh năm 1987 đã ly h n

Con: C 01 ngư i con, sinh năm 2004

Tiền án: C 03 tiền án.

- Ngày 10/12/2008 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh K, xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 09/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh K, xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Ngày 31/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh K, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2020 và đã thi hành xong các khoản tiền phải thi hành của Bản án, nhưng đến nay chưa được x a án tích.

Tiền sự: Kh ng

Bị cáo Bùi Nhật T bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2021 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại:

- Chị Danh Thị Mỹ P, sinh năm 1998 C mặt .

- Anh Danh H, sinh năm 1993 C mặt .

Địa chỉ: Tổ 12, ấp Hò, xã T, huyện Hò, tỉnh K.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trịnh Kim H 1, sinh năm 1964 C mặt .

Địa chỉ: Tổ 12, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh K.

Người làm chứng:

- Anh Đinh Quốc K, sinh năm 1995 Vắng mặt .

Địa chỉ: ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bùi Nhật T là đối tượng thư ng xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và hay b nhà tụ tập sống lang thang. Để c tiền mua ma túy sử dụng và chơi game nên T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của ngư i khác bán lấy tiền phục vụ nhu cầu tiêu xài của mình.

Khoảng 11 gi ngày 19/3/2021 T lấy xe đạp đi từ nhà cha ruột là ng Bùi Văn S tại ấp H đi theo hướng xã T để tìm những nhà kh ng c ngư i tr ng coi r i đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản, khi đến nhà chị Danh Thị Mỹ P tại tổ 11, ấp H, xã T phát hiện thấy cửa trước mở, tại phòng khách chị P đang cho 02 đ a con ngủ, thấy vậy T đậu xe trên mé lộ đan cách nhà chị P khoảng 10m r i đi cặp vách bên trái hướng từ ngoài nhìn vào ra phía sau nhà, thấy cửa phía sau nhà mở T đi vào phòng bếp r i đi lên nhà trên. Lúc này chị P b ng 01 đ a con đi ra cửa chính r i đi cặp vách nhà ra phía sau để quét dọn chu ng gà. Khi đến phòng ngủ cạnh phòng bếp thấy cửa mở nên T đi vào trong và thấy một cái tủ bằng nhựa c nhiều ngăn, T đi đến kéo ngăn phía trên bên phải thì phát hiện c 50.000 đ ng và 01 chai nước hoa, T lấy b vào túi quần r i tiếp tục kéo ngăn phía trên bên trái nhưng ngăn tủ bị kh a kh ng mở được, T đi xuống phòng bếp lấy 01 con dao, loại dao yếm r i quay lại phòng ngủ. T dùng con dao cạy ngăn kéo bị kh a ra phát hiện c 01 chiếc hộp hình tròn màu đ , T lấy chiếc hộp cầm trên tay r i đi ra ngoài. Cùng lúc, chị P đang ở phía sau nhà nghe tiếng động nên b ng con đi cặp vách nhà để ra phía trước r i đi vào nhà, khi chị P đi đến cửa phòng ngủ cặp phòng khách thì phát hiện T từ phòng ngủ cặp phòng bếp đi ra, tay phải cầm con dao, tay trái cầm hộp đựng vàng nên chị P la “Cướp, cướp” thì T b chạy ra phía cửa sau r i vòng ra phía trước, khi T chạy đến hàng ba trước cửa nhà thì chị P tiếp tục la “Cướp cướp” T vừa chạy vừa đe dọa “Mày la lên tao chém” r i chạy đến chỗ để xe đạp. T b lại con dao chỗ để xe r i lên xe đạp chạy về hướng UBND xã T được khoảng 200m T b lại xe đạp lội qua s ng trốn. Trên đư ng đi T mở hộp ra xem thì bên trong c 01 chiếc nhẫn vàng 24k và 01 sợi dây chuyền vàng 18k, T mang số vàng mới lấy trộm được đến nhà Đinh Quốc Kh tại khu vực Cầu số 7, xã S nh Kh chở đi bán vàng. Kh chở T đến tiệm vàng Ngọc Sơn ở ấp Số 8, xã S bán chiếc nhẫn vàng 24k được 11.000.000 đ ng và đến tiệm vàng Vũ Quyền ở Cầu số 5, xã S bán sợi dây chuyền vàng 18k được 3.100.000 đ ng. Sau khi bán vàng T chơi game hết 2.000.000 đ ng và đi xe m đến thành phố R mua ma túy hết 2.000.000 đ ng, mua lại chiếc điện thoại di động Vivo của Kh hết 700.000 đ ng, số tiền còn lại T dùng để tiêu xài cá nhân. Đến ngày 29/3/2021 T bị bắt, C ng an huyện H thu giữ của T 01 điện thoại di động hiệu Vivo và 525.000 đ ng. Quá trình điều tra T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2021 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện H đã kết luận như sau:

- Một nhẫn vàng 24k, loại nhẫn trơn, trọng lượng 02 chỉ và c ký hiệu Minh Thắng; 99,5% đã qua sử dụng tại th i điểm ngày 19/3/2021 c trị giá là 10.120.000 đ ng.

- Một dây chuyền vàng 18k, loại c hình b ng dừa; trọng lượng 1,4 chỉ, 61% đã qua sử sụng tại th i điểm ngày 19/3/2021 c trị giá là 4.564.000 đ ng.

Tổng giá trị tài sản là 14.684.000 đ ng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Nhật T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm và được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-HĐ ngày 11/6/2021của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Bùi Nhật T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát gi quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Nhật T về tội danh và điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Nhật T m c án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không c việc làm và thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đề nghị trả lại cho bà Trịnh Kim H 1 m ch ng bị hại P) một con dao bằng kim loại, màu đen c lưỡi sắc, chiều dài 35,5cm; cán dao dài 11cm, đư ng kính tròn phần cán dao là 3cm; lưỡi dao dài 24,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,7cm; dao bị rỉ sét.

Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một chiếc xe đạp ngư i lớn bằng kim loại, màu bạc loại xe nữ c rổ nhựa màu xám phía trước, sư ng xe c chữ BC BICYCLERS xe đã qua sử dụng đây là phương tiện mà bị cáo dùng để tẩu thoát; Một điện thoại di động hiệu Vivo, màu đ đen, màn hình điện thoại bị bể, kh ng mở được ngu n điện thoại đã qua sử dụng bị cáo dùng tiền phạm tội mà c .

Số tiền Việt Nam 525.000 đ ng g m 01 t mệnh giá 500.000 đ ng, 02 t mệnh giá 10.000 đ ng, 01 t mệnh giá 5.000 đ ng) đây là số tiền còn lại do bị cáo phạm tội mà c nên đề nghị dùng để khấu trừ số tiền khắc phục H quả cho ngư i bị hại.

Đối với chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ và sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 1,4 chỉ, sau khi mua các chủ tiệm vàng đã tái chế và bán lại cho ngư i khác kh ng xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên kh ng thu h i được, đề nghị Hội đ ng xét xử mi n xét.

Đối với chiếc hộp hình tròn màu đ dùng để đựng chiếc nhẫn, sợi dây chuyền vàng và chai nước hoa đã qua sử dụng mà bị cáo lấy ở nhà của Chị P, quá trình tẩu thoát bị cáo đã v t b tại khu vực đê quốc phòng thuộc ấp H, xã T, Cơ quan Cảnh sát điều tra – C ng an huyện H đã tổ ch c tìm kiếm nhưng kh ng thu h i được, đề nghị Hội đ ng xét xử mi n xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Danh Thị Mỹ P và anh Danh H yêu cầu bị cáo Bùi Nhật T b i thư ng chiếc nhẫn vàng 24k là 10.120.000 đ ng, sợi dây chuyền vàng 18k là 4.564.000 đ ng, tổng số tiền chị P và anh H yêu cầu b i thư ng là 14.684.000 đ ng. Tại phiên tòa bị cáo T đ ng ý b i thư ng số tiền trên. Đề nghị Hội đ ng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo b i thư ng cho chị P và anh H theo th a thuận tại phiên tòa. Khấu trừ đi số tiền 525.000 đ ng bị cáo Bùi Nhật T còn phải tiếp tục b i thư ng cho chị P và anh H số tiền 14.159.000 đ ng Mư i bốn triệu một trăm năm mươi chín ngàn đ ng .

Đề nghị Hội đ ng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị hại chị Danh Thị Mỹ P và anh Danh H kh ng yêu cầu bị cáo b i thư ng số tiền 50.000 đ ng và chai nước hoa.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm c giá ngạch theo quy định.

Bị cáo có ý kiến: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát, xin Hội đ ng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng m c án nh .

Người bị hại chị Danh Thị Mỹ P và anh Danh H có ý kiến: Đề nghị hội đ ng xét xử xem xét buộc bị cáo T phải b i thư ng cho vợ ch ng t i giá trị tại sản bị mất cắp tương đương với số tiền14.684.000 đ ng. Và yêu cầu xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

L i n i sau cùng của bị cáo trước khi Hội đ ng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo, để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những ngư i tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó các ch ng c , tài liệu đã thu thập có trong h sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: L i khai của bị cáo Bùi Nhật T phù hợp với l i khai của ngư i bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trư ng, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 11 gi , ngày 19/3/2021 Bùi Nhật T đột nhập vào nhà chị Danh Thị Mỹ P tại tổ 12, ấp H, xã T, huyện H lấy trộm 50.000đ ng, 01 chiếc nhẫn vàng 24k trị giá 10.120.000 đ ng, 01 sợi dây chuyền vàng 18k trị giá 4.564.000 đ ng, tổng trị giá tài sản mà T đã trộm cắp của chị P là 14.734.000 đ ng. Hành vi của bị cáo Bùi Nhật T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn c căn c và đúng quy định của pháp luật.

X t t nh chất, mức độ thiệt hại do hành vị phạm tội g y ra là ít nghiêm trọng. Bị cáo đã c tiền án về tội trộm cắp tài sản nên bị cáo phải nhận th c được rằng việc lấy trộm đ của ngư i khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bị cáo kh ng c nghề nghiệp, thư ng xuyên sử dụng ma túy mà kh ng c tiền mua ma túy để sử dụng nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật sa vào con đư ng phạm tội. Ngoài ra, bản thân bị cáo lư i lao động, tư lợi muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của ngư i khác và sự sơ hở, mất cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại để bị cáo chiếm đoạt tài sản, hành vi đ là nguy hiểm cho xã hội muốn c tiền thu nhập cao. Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Nhật T đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của c ng dân được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, với thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội. Do đ cần phải xử lý nghiêm, c hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội và cần thiết cách ly kh i xã hội một th i gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Nhật T c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Nhật T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên Hội đ ng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về nh n th n: Bị cáo là đối tượng c nhân thân xấu. Do đ , Hội đ ng xét xử sẽ xem xét về nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản và việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho bà Trịnh Kim H 1 một con dao bằng kim loại, màu đen c lưỡi sắc, chiều dài 35,5cm; cán dao dài 11cm, đư ng kính tròn phần cán dao là 3cm; lưỡi dao dài 24,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,7cm; dao bị rỉ sét.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một chiếc xe đạp ngư i lớn bằng kim loại, màu bạc loại xe nữ c rổ nhựa màu xám phía trước, sư ng xe c chữ BC BICYCLERS (xe đã qua sử dụng đây là phương tiện mà bị cáo dùng để tẩu thoát; Một điện thoại di động hiệu Vivo, màu đ đen, màn hình điện thoại bị bể, kh ng mở được ngu n điện thoại đã qua sử dụng bị cáo dùng tiền phạm tội mà c .

Khấu trừ số tiền 525.000 đ ng là số tiền còn lại do bị cáo phạm tội mà c để khắc phục H quả cho chị P và anh H.

Đối với chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ và sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 1,4 chỉ, sau khi mua các chủ tiệm vàng đã tái chế và bán lại cho ngư i khác (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ kh ng thu h i được nên Hội đ ng xét xử mi n xét.

Đối với chiếc hộp hình tròn màu đ dùng để đựng chiếc nhẫn, sợi dây chuyền vàng và chai nước hoa đã qua sử dụng mà bị cáo lấy ở nhà của Chị P, quá trình tẩu thoát bị cáo đã v t b tại khu vực đê quốc phòng thuộc ấp H, xã T, Cơ quan Cảnh sát điều tra – C ng an huyện H đã tổ ch c tìm kiếm nhưng kh ng thu h i được nên Hội đ ng xét xử mi n xét.

Về trách nhiệm d n sự: Chị Danh Thị Mỹ P và anh Danh H yêu cầu bị cáo Bùi Nhật T b i thư ng chiếc nhẫn vàng 24k là 10.120.000 đ ng, sợi dây chuyền vàng 18k là 4.564.000 đ ng, tổng số tiền chị P và anh H yêu cầu b i thư ng là 14.684.000 đ ng. Xét thấy yêu cầu của bị hại là phù hợp với bản kết luận định giá của Hội đ ng định giá và tại phiên tòa bị cáo đ ng ý b i thư ng cho bị hại, nên Hội đ ng xét xử ghi nhận để buộc bị cáo thực hiện. Hội đ ng xét xử buộc bị cáo Bùi Nhật T có trách nhiệm b i thư ng cho bị hại chị P và anh H số tiền 14.684.000 đ ng. Khấu trừ đi số tiền 525.000 đ ng bị cáo Bùi Nhật T còn phải tiếp tục b i thư ng cho chị P và anh H số tiền 14.159.000 đ ng Mư i bốn triệu một trăm năm mươi chín ngàn đ ng .

Tại phiên tòa bị hại Danh Thị Mỹ P và anh Danh H không yêu cầu bị cáo b i thư ng số tiền 50.000 đ ng và chai nước xét thấy đây là sự tự nguyện của bị hại nên Hội đ ng xét xử ghi nhận.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của Hội đ ng xét xử nên chấp nhận.

Về án ph : Căn c Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Nhật T phải chịu án hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm c giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác:

Đối với Đinh Quốc Kh là ngư i đã chở bị cáo T đi bán số vàng trộm cắp, trong quá trình điều tra xác minh Đinh Quốc Kh kh ng c mặt tại địa phương nên kh ng làm việc được. Mặt khác, qua l i khai của bị cáo T thì Kh kh ng biết số vàng này do bị cáo T trộm cắp mà c nên hành vi của Đinh Quốc Kh kh ng cấu thành tội phạm.

Đối với ngư i đàn ng tên N là ngư i bán ma túy cho bị cáo T, quá trình điều tra chưa xác định được họ tên, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra c ng an huyện H phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra c ng an thành phố Rạch Giá tiếp tục điều tra làm rõ nếu c căn c sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn c khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Nhật T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử Phạt: Bị cáo Bùi Nhật T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2021.

Về hình phạt bổ sung: Mi n hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm d n sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại chị Danh Thị Mỹ P và anh Danh H không yêu cầu bị cáo Bùi Nhật T b i thư ng số tiền 50.000 đ ng và chai nước hoa.

Buộc bị cáo Bùi Nhật T b i thư ng cho bị hại chị Danh Thị Mỹ P và anh Danh H tổng số tiền là 14.684.000 đ ng. Mư i bốn triệu sáu trăm tám mươi bốn ngàn đ ng . Khấu trừ đi số tiền 525.000 đ ng Năm trăm hai mươi lăm ngàn đ ng , hiện đang nộp tại Kho bạc nhà nước huyện H theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/5/2021, bị cáo Bùi Nhật T còn phải tiếp tục b i thư ng cho bị hại chị Danh Thị Mỹ P và anh Danh H số tiền 14.159.000 đ ng Mư i bốn triệu một trăm năm mươi chín ngàn đ ng .

“Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho bà Trịnh Kim H 1 một con dao bằng kim loại, màu đen c lưỡi sắc, chiều dài 35,5cm; cán dao dài 11cm, đư ng kính tròn phần cán dao là 3cm; lưỡi dao dài 24,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,7cm; dao bị rỉ sét.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một chiếc xe đạp ngư i lớn bằng kim loại, màu bạc loại xe nữ c rổ nhựa màu xám phía trước, sư ng xe c chữ BC BICYCLERS xe đã qua sử dụng đây là phương tiện mà bị cáo dùng để tẩu thoát; Một điện thoại di động hiệu Vivo, màu đ đen, màn hình điện thoại bị bể, kh ng mở được ngu n điện thoại đã qua sử dụng bị cáo dùng tiền phạm tội mà c .

Khấu trừ số tiền 525.000 đ ng là số tiền còn lại do bị cáo phạm tội mà c để khắc phục H quả cho chị P và anh H.

Đối với chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ và sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 1,4 chỉ, sau khi mua các chủ tiệm vàng đã tái chế và bán lại cho ngư i khác kh ng xác định được tên, tuổi, địa chỉ kh ng thu h i được nên Hội đ ng xét xử mi n xét.

Đối với chiếc hộp hình tròn màu đ dùng để đựng chiếc nhẫn, sợi dây chuyền vàng và chai nước hoa đã qua sử dụng mà bị cáo lấy ở nhà của Chị P, quá trình tẩu thoát bị cáo đã v t b tại khu vực đê quốc phòng thuộc ấp H, xã T, Cơ quan Cảnh sát điều tra – C ng an huyện H đã tổ ch c tìm kiếm nhưng kh ng thu h i được nên Hội đ ng xét xử mi n xét.

Về án ph : Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Nhật T phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm và 707.950 đ ng án phí dân sự sơ thẩm c giá ngạch.

Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại, ngư i c quyền lợi nghĩa vụ liên quan c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi Nhận:

Cỡ chữ