vanban.org

Bản án 26/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 21/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thạch M phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Thạch M 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính kể từ ngày 02/12/2020. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 591 Bộ luật Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch M - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch M phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HS-ST
Ngày 21 - 10 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Trần Quỳnh Phương

Thẩm phán:

Ông Trần Quang Khang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Hùng

Ông Trần Văn Đông

Bà Liêu Bích Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: THẠCH M (tên gọi khác T), sinh năm 1999, tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Khóm B, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Xà R, sinh năm 1975 và bà Kim Thị K, sinh năm 1973; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/12/2020 đến ngày 03/12/2020 chuyển tạm giam đến nay, (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Kim Thị K, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khóm B, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trịnh Thanh Nhân-là Luật sư của Văn Phòng Luật sư Trịnh Thanh Minh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bạc Liêu, (có mặt).

- Bị hại: Ông Sơn Thái B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khóm H, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, (đã chết).

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Sơn Thị G, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bà Sơn Thị H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

3. Bà Sơn Thị H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

4. Ông Sơn Bình, sinh năm 1976. Địa chỉ: Khóm H, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

5. Ông Sơn Q, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khóm H, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

6. Bà Sơn Thị P, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khóm H, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

7. Ông Sơn Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp Thị Trấn B1, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà G, bà H, bà H, ông B, ông Q, ông Đ: Bà Sơn Thị P (theo văn bản ủy quyền ngày 05/7/2021), (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 01/12/2020, bị cáo Thạch M điều khiển xe mô tô (không rõ biển số đăng ký) đến nhà anh Sơn Thái B (tên gọi khác Đ) sinh năm 1983, trú tại: khóm H, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu đòi lại xe mô tô hiệu Suzuki Sport vì bị cáo cho rằng anh B lấy xe của mình và có mang theo dao trong người. Do không lấy xe nên B đi đến nhà cha, mẹ bị cáo thuộc khóm H, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu để nói cho họ biết và bị cáo cũng đi theo anh B. Đến nơi, anh B vào nhà gặp bà Kim Thị K (mẹ bị cáo) nói chuyện thì bị cáo tiếp tục yêu cầu anh B trả xe nhưng anh B không trả lời mà quay trở ra định đi về. Do bực tức việc anh B không trả xe nên khi anh B từ trong nhà bà K đi ra đến vị trí đối diện, bị cáo lấy trong người 01 cây dao cán bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 7,5cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn (đã chuẩn bị trước đó) cầm trên tay phải đâm anh B một nhát vào vùng bụng trên bên phải. Anh B bỏ chạy, bị cáo cầm dao đuổi theo nhưng được cha, mẹ bị cáo và và chị Sơn Thị Cẩm T can ngăn. Anh B được đưa đến Trung tâm y tế thị xã Giá Rai cấp cứu rồi tiếp tục chuyển đến Bệnh viện đa khoa Bạc Liêu cấp cứu đến 23 giờ cùng ngày tử vong.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 48/PC09-2020, ngày 14/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu kết luận: Anh Sơn Thái B chết do thủng gan, đầu tụy, mạc treo và tá tràng gây sốc mất máu không phục hồi.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 28/2021/KLGĐ, ngày 02/02/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận:

- Về y học: trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: đương sự có bệnh lý tâm thần: rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác (F16.71 - ICD10).

- Về năng lực: tại thời điểm phạm tội và hiện tại: đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại văn bản số: 28.0/PYTT, ngày 02/02/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ xác định:

- Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.

Tại Cáo trạng số:15/CT-VKS-P1 ngày 27/04/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Thạch M về tội: “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Thạch M. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thạch M phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, q, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 14 - 15 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 591 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện gia đình bị hại tại phiên tòa về việc bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền chi phí mai táng 30.000.000đ.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) cái áo khoát màu xám đen, bên trong có một mặt lưới, có nhiều lỗ nhỏ màu xám đen, mặt trước phía dưới bên phải có vết rách vải kích thước 02cm, bên trong mặt lưới có vết rách vải kích thước 2,1cm, trên áo có dính nhiều chất bẩn và có nhiều vết rách khác nhau; 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đen, trên áo có dòng chư “CUTOFF”, mặt trước phía dưới bên phải có vết rách vải kích thước 1,8 cm, trên áo có dính nhiều vết bẩn và có nhiều vết rách khác nhau; 01 (một) cái áo bằng vải len dài tay, cổ áo tròn, cao, màu nâu đen; 01 (một) cái quần jeans có hai ống màu trắng, phía trước hai ống quần có nhiều vết rách; 01 (một) cây dao bằng kim loại màu sáng (trắng) dài 18cm, phần lưỡi dao dài 7,5 cm, nơi rộng nhất là 1,5 cm, cán dao làm bằng nhựa màu đen dài 10,5 cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dính nhiều vết máu; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu xanh có chữ “FENDI”; mẫu máu còn lại sau giám định.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh mà đại diện Viện Kiểm sát đã truy tố, không tranh luận. Tuy nhiên, việc xác định bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp bởi lẽ bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức nên không làm chủ đươc hành vi của bản thân. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo.

Bị cáo trình bày: Thống nhất với lời trình bày của luật sư về phần trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền chi phí mai táng là 30.000.000đ.

Đại diện bị hại là bà Sơn Thị P xác định: Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền chi phí mai táng là 30.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, nên hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm, kết luận giám định nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 01/12/2020, tại Khóm H, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Thạch M đã vô cớ dùng cây dao bằng kim loại do bị cáo đã chuẩn bị từ trước đâm một nhát vào bụng anh Sơn Thái B gây hậu quả anh B tử vong do thủng gan, đầu tụy, mạc treo và tá tràng gây sốc mất máu không phục hồi.

Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn nhưng bị cáo đã có hành vi dùng dao là vật sắc nhọn đâm vào vùng bụng của anh B làm cho anh B tử vong, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nên có đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của anh B. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và cũng để phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, bị cáo tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho đại diện gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 8.000.000đ. Tại phiên tòa, đại diện bị hại yêu cầu tiếp tục bồi thường chi phí mai táng số tiền 30.000.000đ và bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện bị hại. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và đại diện bị hại, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại 30.000.000đ, bà P là đại diện nhận thay.

Như đã phân tích, xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về mức hình phạt là phù hợp nên được chấp nhận.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo như đã nêu trên các đề nghị này không có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Thạch M phạm tội “Giết người”.

2. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Thạch M 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính kể từ ngày 02/12/2020.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 591 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Thạch M có trách nhiệm bồi thường cho bà Sơn Thị G, bà Sơn Thị H, bà Sơn Thị H, ông Sơn B, ông Sơn Q, bà Sơn Thị P, ông Sơn Đ số tiền 30.000.000đ. Bà Sơn Thị P được thay mặt nhận tiền do bị cáo bồi thường.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) cái áo khoát màu xám đen, bên trong có một mặt lưới, có nhiều lỗ nhỏ màu xám đen, mặt trước phía dưới bên phải có vết rách vải kích thước 02cm, bên trong mặt lưới có vết rách vải kích thước 2,1cm, trên áo có dính nhiều chất bẩn và có nhiều vết rách khác nhau; 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đen, trên áo có dòng chư “CUTOFF”, mặt trước phía dưới bên phải có vết rách vải kích thước 1,8 cm, trên áo có dính nhiều vết bẩn và có nhiều vết rách khác nhau; 01 (một) cái áo bằng vải len dài tay, cổ áo tròn, cao, màu nâu đen; 01 (một) cái quần jeans có hai ống màu trắng, phía trước hai ống quần có nhiều vết rách; 01 (một) cây dao bằng kim loại màu sáng (trắng) dài 18cm, phần lưỡi dao dài 7,5 cm, nơi rộng nhất là 1,5 cm, cán dao làm bằng nhựa màu đen dài 10,5 cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dính nhiều vết máu; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu xanh có chữ “FENDI”; mẫu máu còn lại sau giám định.

(Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06/5/2021).

5. Về án phí: Căn cứ các điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Thạch M phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ