- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2021/HS-ST Ngày: 02.3.2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Nhớ
Ông Trần Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02.3.2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2021/TLST-HS, ngày 27.01.2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HS ngày 18.02.2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy Q; sinh ngày 01.01.1993; tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn 3, xã Q, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1973) và bà Ngô Thị N (sinh năm 1973), đều còn sống; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại: Anh Huỳnh Xuân T, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn Y, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 29/6/2020, Nguyễn Duy Q cùng một người bạn tên Thành (chưa rõ nhân thân,lai lịch) rủ nhau đến bờ kè đường Nguyễn Tất Thành, quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng để tìm người bán thuốc cỏ Mỹ mua sử dụng. Khi cả hai đi đến khu vực bờ kè đường Nguyễn Tất Thành, đoạn đối diện đường Tôn Thất Đạm thuộc phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành Phố Đà Nẵng thấy anh Huỳnh Xuân T đang ngủ gật gù nghi do phê thuốc cỏ, bên cạnh có 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 43K1-387.40, trên xe có sẵn chìa khóa. Q và Thành đi đến bên cạnh anh T để xin thuốc cỏ hút. Sau khi được anh T cho thuốc cỏ hút, Q đi mua nước để uống, còn Thành ở lại cùng hút thuốc cỏ với anh T. Khi Q quay lại, thấy anh T đang ngủ, còn Thành đang dắt xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 43K1-387.40 của anh T, Thành nói nhỏ với Q “Đẩy giúp tao”, Q biết là Thành đang lấy trộm xe của anh T nên đi đến cùng Thành đẩy xe xuống đường Nguyễn Tất Thành rồi cả 02 người tẩu thoát. Sau khi tỉnh dậy, phát hiện bị mất trộm xe nên anh T đã đi đến Công an phường Xuân Hà trình báo vụ việc. Sau khi lấy trộm xe, Thành sử dụng xe môtô nói trên được khoảng 01 tháng thì giao lại cho Q sử dụng. Đến ngày 14/09/2020, khi Q đang điều khiển chiếc xe trộm cắp được của anh T chạy trên đường Nguyễn Tất Thành, thành phố Đà Nẵng thì bị cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê kiểm tra phát hiện và triệu tập về trụ sở làm việc. Tại cơ quan điều tra Q đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 10/07/2020 của Hội đồng thẩm định giá tài sản trong TTHS quận Thanh Khê xác định giá trị của chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 43K1-387.40 mà Nguyễn Duy Q trộm cắp là 31.600.000 đồng.
Vật chứng tạm giữ: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 43K1-387.40.
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKS-TK, ngày 27.01.2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Duy Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa giữ nguyên nội dung quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội "Trộm cắp tài sản" đồng thời: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q mức án từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Huỳnh Xuân T đã nhận lại xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 43K1-387.40 và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
Xử lý vật chứng: Ngày 30/10/2020, cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 43K1-387.40 cho chủ sở hữu hợp pháp anh Huỳnh Xuân T là đúng pháp luật nên không đề cập.
Các vấn đề khác: Trong vụ án, Nguyễn Duy Q khai thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với một người bạn tên Thành có quê quán tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, quá trình điều tra chưa xác đinh được nhân thân, lai lịch cụ thể. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy Q khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Duy Q đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của anh T trong lúc anh T đang say thuốc và ngủ quên nên đã lén lút cùng với Thành (không rõ nhân thân lai lịch) trộm cắp 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 43K1-387.40 rồi tẩu thoát. Xe mô tô Yamaha Exciter có trị giá 31.600.000đ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự "Tài sản có giá trị từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ".
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, có đầy đủ sức khỏe và khả năng lao động bình thường nhưng do đua đòi, ham chơi, lười lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo nảy sinh ý định từ khi thấy Thành dắt xe máy của anh T, ý thức được Thành đang lấy trộm xe của anh T nên đã đồng ý cùng Thành thực hiện hành vi trộm cắp, sau khi trộm cắp bị cáo đã sử dụng xe một thời gian thì bị Công an quận Thanh Khê phát hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội; Bị cáo có khả năng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết trộm cắp tài sản của người khác thì sẽ bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện, do đó bị cáo phải chịu hậu quả pháp lý do hành vi phạm tội của mình gây ra.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo Nguyễn Duy Q thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; quá trình điều tra người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhưng cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành một công dân lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng", do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động phổ thông, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện VKS nhân dân quận Thanh Khê về tội danh và các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trách nhiệm dân sự: Xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 43K1-387.40 đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra thể hiện người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê có thu giữ 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 43K1-387.40. Ngày 30/10/2020 Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp anh Huỳnh Xuân T là có căn cứ.
Các vấn đề khác: Trong vụ án, Nguyễn Duy Q khai thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với một người bạn tên Thành có quê quán tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Duy Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện KSND q.Thanh Khê;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện KSND TP Đà Nẵng;
- Cơ quan CSĐT Công an q.Thanh Khê;
- Cơ quan THAHS q.Thanh Khê;
- Chi cục THADS q.Thanh Khê;
- Tòa án NDTP Đà Nẵng;
- Bị cáo; người bị hại.
Lƣu Thị Hằng
- Lưu hồ sơ vụ án.
| Nơi nhận: - Viện KSND q.Thanh Khê; - Viện KSND TP Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT Công an q.Thanh Khê; - Cơ quan THAHS q.Thanh Khê; - Trại tạm giam Công an TP Đà Nẵng - Chi cục THADS q.Thanh Khê; - Tòa án NDTP Đà Nẵng; - Bị cáo; người bị hại. - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣu Thị Hằng |