vanban.org

Bản án 26/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Lê Văn T và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản Phạm Văn Th phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt các bị cáo: Nguyễn Văn T 11 (mười một) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 15 tháng tù của bản án số 348/2020/HS-PT ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 26 (hai mươi sáu) tháng tù; Thời hạn tù đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Lê Văn T và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản Phạm Văn Th phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HS-ST
Ngày 20-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Nguyễn Thị Lệ Thanh

2. Bà: Hoàng Thị Thúy

-Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2021/QĐXXST-HS ngày 06/4/2021, đối với các bị cáo;

1. Lê Văn T sinh năm 1996, nơi sinh và cư trú tại khu phố Th, phường T, thành phố S, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị M sinh năm 1967; vợ: Nguyễn Thị Ng sinh năm 1995; con: lớn sinh năm 2016 nhỏ sinh năm 2017; tiền án: có 01 tại Bản án số 348 ngày 23/12/2020 của TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/12/2017 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đã được xóa; Ngày 24/3/2019 bị UBND phường Quảng Thọ, thành phố Sầm Sơn quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường (chấp hành xong ngày 24/6/2019); bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2021; tạm giam từ ngày 14/01/2021; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Xương (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Văn T sinh năm 1996; nơi sinh và cư trú tại thôn 1, xã C, thành phố H, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Kh sinh năm 1973 và bà Lê Thị Th sinh năm 1973; vợ: Đới Thị Tr sinh năm 1999; con: chưa có; tiền án: có 01 tại Bản án số 348 ngày 23/12/2020 của TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án; tiền sự: có 01, ngày 16/6/2020 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về tội trộm cắp tài sản chưa chấp hành; nhân thân: Ngày 29/12/2017 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đã được xóa; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2021; tạm giam từ ngày 14/01/2021; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Xương (có mặt tại phiên tòa).

3. Phạm Văn Th, sinh năm 1984; nơi sinh và cư trú tại thôn 5, xã C, thành phố H, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Ngh sinh năm 1944 và bà Nguyễn Thị T sinh năm 1947; vợ Trần Thị H, sinh năm 1985; có 02 con nhỏ sinh năm 2007, lớn sinh năm 2004; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Án tích ngày 17/9/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn xử phạt 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Anh Nguyễn Đăng H - Sinh năm 1970 (vắng mặt có lý do)

Nơi cư trú: Khu phố 1, thị trấn Ph, huyện X, tỉnh H.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Nguy - Sinh năm 1995 (có mặt).

Nơi cư trú: Khu phố Th, phường T, thành phố S, tỉnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ, ngày 11/01/2021, Lê Văn Tuấn sinh năm 1996, ở khu phố Th, phường T, thành phố S, tỉnh H điều khiển xe môtô Honda Wave RSX màu đỏ đen BKS 36B7-528.16 đến nhà Nguyễn Văn T ở xã C, thành phố H chơi, do không có tiền tiêu xài nên cả hai rủ nhau đi trộm chó bán lấy tiền. Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 36B7-521.16 chở Lê Văn T ngồi sau mang theo 01 khẩu súng bắn điện tự chế, 01 bì xác rắn, 01 cuộn băng dính đen, 01 vỏ chai thủy tinh bên trong chứa ớt bột do cả hai đã chuẩn bị từ trước để đi trộm cắp chó. Đi đến khu vực Bệnh viện đa khoa huyện Quảng Xương thuộc khu phố 1, thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương phát hiện thấy 01 con chó màu nâu đen của gia đình anh Nguyễn Đăng H sinh năm 1970 ở khu phố 1, thị trấn Ph, huyện X đang chạy ở rìa đường, xung quanh không có người nên Nguyễn Văn T điều khiển xe lại gần con chó, Lê Văn T ngồi trên xe dùng súng bắn điện tự chế bắn trúng vào con chó làm cho nó nằm bất động. Lê Văn T xuống xe ôm con chó ngồi lên xe, rồi Nguyễn Văn T điều khiển xe chạy về hướng Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa. Trên đường đi Lê Văn T dùng băng keo quấn quanh mồm con chó lại và bỏ vào trong bì, Nguyễn Văn T điều khiển xe đi đến nhà Phạm Văn Th ở thôn 5, xã C, thành phố H để bán cho Th. Khi T mang chó đến nhà bán cho Th thì Th biết đây là chó do trộm cắp mà có nhưng vì ham rẻ nên Th vẫn đồng ý mua với giá 60.000đ/1 kg, Th cùng với Nguyễn Văn T khiêng bì chó lên cân được 32 kg. Khi vừa khiêng chó xuống khỏi bàn cân, đang chuẩn bị thanh toán tiền thì bị Công an xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa phát hiện và bắt giữ người và chuyển toàn bộ tang vật lên Công an huyện Quảng Xương.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 12/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quảng Xương kết luận: 01 con chó, giống đực, màu đen, đang còn sống, có trọng lượng 32kg; được xác định trị giá: 2.880.000đ.

Chiếc xe mô tô Honda RSX màu đỏ BKS 36B7-528.16 là biển số giả do Lê Văn T nhặt được, lắp vào xe để đi trộm cắp tài sản. Còn BKS của xe này là 36B7-683.93, là xe của chị Nguyễn Thị Ng sinh năm 1995 (vợ của Lê Văn T). Ngày 22/01/2021 được cơ quan điều tra trả lại xe cho chị Nguyễn Thị Ng, chị Ng nhận lại xe đầy đủ không có ý kiến gì và không yêu cầu gì thêm.

Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương đã trả lại tài sản là con chó cho bị hại là anh Nguyễn Đăng H, anh H không có ý kiến gì cũng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.

Cơ quan điều tra còn thu giữ các vật chứng gồm BKS 36B7-528.16; 01 khẩu súng bắn điện tự chế; 01 bì xác rắn; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 vỏ chai thủy tinh bên trong chứa ớt bột; 01 cân màu xanh nhãn hiệu Nhơn Hòa.

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, sau khi xét hỏi và tranh luận, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng.

Cáo trạng số: 21/Ctr-VKSQX ngày 11/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn T và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Phạm Văn Th về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng:

+ Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 56; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Lê Văn T từ 8 tháng đến 10 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 348 ngày 23/12/2020 của TAND tỉnh Thanh Hóa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án.

+ Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 56; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Văn T từ 10 tháng đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 348 ngày 23/12/2020 của TAND tỉnh Thanh Hóa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án.

+ Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt Phạm Văn Th từ 7 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng.

+ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát số 36 B7-528.16 là biển số giả, 01 khẩu súng bắn điện tự chế; 01 bì xác rắn; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 vỏ chai thủy tinh bên trong chứa ớt bột; 01 cân màu xanh nhãn hiệu Nhơn Hòa.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận tội, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Hành vi của các bị cáo là khoảng 12 giờ, ngày 11/01/2021, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 36B7-521.16 chở Lê Văn T ngồi sau, đi đến khu vực Bệnh viện đa khoa huyện Quảng Xương thuộc khu phố 1, thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương phát hiện thấy 01 con chó màu nâu đen của gia đình anh Nguyễn Đăng H đang chạy ở rìa đường, xung quanh không có người nên Nguyễn Văn T điều khiển xe lại gần con chó, Lê Văn T ngồi trên xe dùng súng bắn điện tự chế bắn trúng vào con chó làm cho nó nằm bất động. Nguyễn Văn T điều khiển xe đi đến nhà Phạm Văn Th bán con chó cho Th, Th biết đây là chó do trộm cắp mà có nhưng vì ham rẻ nên Th vẫn đồng ý mua với giá 60.000đ/1kg, Th cùng với Nguyễn Văn T khiêng bì chó lên cân được 32 kg. Khi vừa khiêng chó xuống khỏi bàn cân, đang chuẩn bị thanh toán tiền thì bị Công an xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa phát hiện và bắt giữ người và chuyển toàn bộ tang vật lên Công an huyện Quảng Xương.

Theo bản kết luận định giá tài sản kết luận 01 con chó, giống đực, màu đen, đang còn sống, có trọng lượng 32kg; được xác định trị giá: 2.880.000đ.

Hành vi của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; Biên bản làm việc; Giấy báo cáo của bị hại; Kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Như vậy Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn Th về phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, tính chất và mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, nhưng ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội và trên địa bàn, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân; các bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đây là đồng phạm giản đơn, vai trò của bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T như nhau.

Động cơ và mục đích của các bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T là muốn có tiền tiêu dùng cá nhân nhưng không chịu khó lao động nên đi trộm cắp tài sản. Bị cáo Phạm Văn Th vì ham mua rẻ nên đã mua con chó trộm cắp về để làm thịt bán kiếm lợi nhuận cao hơn.

Về tình tiết tăng nặng và nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T đều có một tiền án nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; tiền sự bị cáo Nguyễn Văn T có 01 tiền sự; cáo Lê Văn T không có tiền sự; nhân thân cả hai bị cáo ngày 29/12/2017 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đã được xóa; bị cáo Lê Văn Tuấn ngày 24/3/2019 bị UBND phường Quảng Thọ, thành phố Sầm Sơn quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường (chấp hành xong ngày 24/6/2019); bị cáo Phạm Văn Th không có tình tiết tăng nặng; không có tiền án; tiền sự nhân thân án tích ngày 17/9/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn xử phạt 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” (đã được xóa).

Về tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Văn T có bố đẻ là Lê Văn Th là người được hưởng tám chữ vàng danh dự của Ban chấp hành hội cựu chiến binh và được UBND xã xác nhận gia đình hoàn cảnh khó khăn; Phạm Văn Th có bố mẹ là người có công với cách mạng được tặng hạng nhất và hạng ba trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ và được UBND xác nhận gia đình hoàn cảnh khó khăn lao động chính trong nhà chấp hành tốt nội quy của địa phương nên hai bị cáo được hưởng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt tù bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T, nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người tốt. Bị cáo Phạm Văn Th đã được xóa án ích về tội đánh bạc, bị xử phạt cải tạo không giam giữ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, chấp hành tốt các quy định ở địa phương được UBND xã xác nhận, có khả năng cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nên cho bị cáo được hưởng án treo, quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 là không trái với nghị quyết của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao.

Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về bồi thường thiệt hại: Anh Nguyễn Đăng H đã nhận lại con chó, anh H không có ý kiến gì cũng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm, việc không yêu cầu các bị cáo bồi thường của bị hại là sự tự nguyện không trái với đạo đức xã hội và quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Cần tịch tiêu hủy những vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được gồm 01 biển kiểm soát số 36B7-528.16; 01 khẩu súng bắn điện tự chế; 01 bì xác rắn; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 vỏ chai thủy tinh bên trong chứa ớt bột; 01 cân màu xanh nhãn hiệu nhơn hòa.

Đề nghị của Viện kiểm sát: Về mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ đủ để giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56 BLHS đối với cả 2 bị cáo Lê Văn Tuấn và Nguyễn Văn T. Lê Văn T được hưởng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn Th.

Tuyên bố các bị cáo: Lê Văn T và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản Phạm Văn Th phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T 11 (mười một) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 15 tháng tù của bản án số 348/2020/HS-PT ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 26 (hai mươi sáu) tháng tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 11 tháng 01 năm 2021.

2. Lê Văn T 09 (chín) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 12 tháng tù của bản án số 348/2020/HS-PT ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 (hai mươi mốt) tháng tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 11 tháng 01 năm 2021.

3. Phạm Văn Th 7 (bảy) tháng tù cho được hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao người bị kết án Phạm Văn Th cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về bồi thường thiệt hại: Các bên tự nguyện không yêu cầu bồi thường, không buộc các bị cáo bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch tiêu hủy gồm 01 biển kiểm soát số 36B7-528.16; 01 khẩu súng bắn điện tự chế; 01 bì xác rắn; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 vỏ chai thủy tinh bên trong chứa ớt bột; 01 cân màu xanh nhãn hiệu nhơn hòa.

Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/4/2021.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn T và Phạm Văn Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 20 tháng 04 năm 2021.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ