vanban.org

Bản án 26/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tiêu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tiêu Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2021. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau đã truy tố Tiêu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c kho…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tiêu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HS-ST
Ngày 17-11-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trọn.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tiêu Văn T, sinh năm 1999, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tiêu Văn D và bà Trần Thị P; Bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01 tháng 9 năm 2021 bị Trưởng công an huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 40/QĐ-XPVPHC ngày 01 tháng 9 năm 2021 về hành vi không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế, xử phạt với số tiền 2.000.000 đồng; tạm giữ ngày 08/8/2021; tạm giam ngày 14/8/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 07 tháng 8 năm 2021, Tổ tuần tra Công an huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tiến hành tuần tra trên tuyến lộ thuộc ấp T, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thì phát hiện Tiêu Văn T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 85R2-7800, tiến hành kiểm tra và phát hiện bắt quả tang Tiêu Văn T đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong nón lưỡi trai màu xanh-đen của Tiêu Văn T đang đội trên đầu.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 bọc nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 cái nón lưỡi trai màu xanh-đen; 01 nắp nhựa màu xanh trong đó có một ống hút được gắn vào một ống thủy tinh, một đầu ống thủy tinh dạng hình cầu; 01 quẹt gas; 01 điện thoại di động hiệu L8STAR, màu vàng-trắng, bàn phím, số IMEI 1: 355430915519219, số IMEI 2: 355430915519227, bên trong có 01 sim vettel và 01 sim Itelecom; 01 xe mô tô biển kiểm soát 85R2-7800.

Tại Bản Kết luận giám định số 190/GĐH-PC09 ngày 11 tháng 8 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bọc nilon màu trắng được hàn kín, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật có chữ ký, chữ viết họ tên: “Tiêu Văn T”-Đối tượng, “Huỳnh Văn Hoàng”-ĐTV, “Châu Văn Linh”-Người chứng kiến và 02 (hai) hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1571gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau đã truy tố Tiêu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tiêu Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 190/GĐH-PC09, ngày 11/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên của giám định viên Dương Hải Đăng, người chứng kiến Trần Minh Khải và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau đóng giáp lai niêm phong. Bên trong gồm: Phong bì niêm phong hình chữ nhật gửi giám định, bọc nilon màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng; 01 cái nón lưỡi trai màu xanh-đen; 01 nắp nhựa màu xanh trong đó có một ống hút được gắn vào một ống thủy tinh, một đầu ống thủy tinh dạng hình cầu; 01 quẹt gas. Đối với người tên A bị cáo Tiêu Văn T khai đã mua ma túy, hiện chưa xác định được lý lịch và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tách ra, tiếp tục điều tra xử lý sau.

Bị cáo Tiêu Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi và tội danh đã bị truy tố theo nội dung Cáo trạng và yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Tiêu Văn T thừa nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng nên vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 07 tháng 8 năm 2021, bị cáo đã mua ma túy của một người tên A với giá 300.000 đồng, sau khi nhận được ma túy bị cáo cất giấu trong nón lưỡi trai màu xanh-đen, nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị lực lượng Công an huyện Phú Tân kiểm tra và đã bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,1571gam, loại Methamphetamine. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ.

Do đó, hành vi của bị cáo Tiêu Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo Tiêu Văn T gây ra là nguy hiểm cho xã hội thuộc T hợp nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Mặc dù bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật, bị cáo biết rõ ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tinh thần của bản thân, là tệ nạn nhức nhối của toàn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, đặc biệt hơn là gây ra tâm lý bất an trong nhân dân và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm hình sự khác nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý.

Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân không tốt, ngoài lần thực hiện hành vi phạm tội này thì bị cáo còn bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có ông nội là ông Tiêu Văn Mây được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 190/GĐH-PC09, ngày 11/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên của giám định viên Dương Hải Đăng, người chứng kiến Trần Minh Khải và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau đóng giáp lai niêm phong. Bên trong gồm: Phong bì niêm phong hình chữ nhật gửi giám định, bọc nilon màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng; 01 cái nón lưỡi trai màu xanh-đen; 01 nắp nhựa màu xanh trong đó có một ống hút được gắn vào một ống thủy tinh, một đầu ống thủy tinh dạng hình cầu; 01 quẹt gas. Đây đều là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với đối tượng tên A ở thị trấn C, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau mà bị cáo T đã khai mua ma túy. Quá trình điều tra chưa xác định được lý lịch và địa chỉ cụ thể. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Tân tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô, biển kiểm soát 85R2-7800 là tài sản của ông Tiêu Văn E cho Tiêu Văn T mượn sử dụng, ông Tiêu Văn E không biết việc Tiêu Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy và 01 điện thoại di động hiệu L8STAR, màu vàng-trắng, bàn phím, số IMEI 1: 355430915519219, số IMEI 2: 355430915519227, bên trong có 01 sim vettel và 01 sim Itelecom là tài sản của bị cáo T và không liên quan đến việc phạm tội. Do đó, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Tân đã trả lại cho ông Tiêu Văn E và bị cáo Tiêu Văn T các tài sản nói trên là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Tiêu Văn T phải chịu theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tiêu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tiêu Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2021.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 190/GĐH-PC09, ngày 11/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên của giám định viên Dương Hải Đăng, người chứng kiến Trần Minh Khải và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau đóng giáp lai niêm phong. Bên trong gồm: Phong bì niêm phong hình chữ nhật gửi giám định, bọc nilon màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng; 01 cái nón lưỡi trai màu xanh-đen; 01 nắp nhựa màu xanh trong đó có một ống hút được gắn vào một ống thủy tinh, một đầu ống thủy tinh dạng hình cầu; 01 quẹt gas.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tiêu Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

T hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo Tiêu Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ