- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản, bị cáo N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Bé N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2021/HS-ST Ngày: 11/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN KIM NGỌC.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông HUỲNH VĂN THANH
Bà TRẦN THỊ ÚT
- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN TRẦN HỒNG NHUNG– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà TRẦN THỊ KIM OANH – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2021/TLST-HS ngày 12/4/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Bé N (Trung H), sinh năm 1985 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: khu phố M, phường N, thị xã L, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L; Anh chị em ruột có 4 người bị cáo con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ Lê Thị T (đã ly hôn); Con Nguyễn Đăng K sinh năm 2013; Tiền sự 02 lần, lần thứ nhất: Ngày 07/6/2018, Công an thị xã L, tỉnh Tiền Giang quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác với số tiền 2.500.000đ, bị can chưa chấp hành; Lần 2: Ngày 04/4/2019, Ủy ban nhân dân phường N quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 3 tháng từ ngày 04/4/2019 đến ngày 04/7/2019; Tiền án 01: 01 lần, ngày 22/11/2019, Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Tiền Giang xử bị cáo 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 30/6/2020, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/3/2020; Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/9/2020; Tạm giam ngày 20/9/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Châu Bá T, sinh năm 1999. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Đặng Văn M, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp M, xã K, thị xã L, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt).
2/ Nguyễn Văn B, sinh năm 2000. Địa chỉ: ấp L, xã V, huyện P, tỉnh An Giang. (xin vắng mặt).
3/ Giang Kim L, sinh năm 1952. Địa chỉ: ấp M, xã K, thị xã L, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
4/ Cao Thị P, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp H, xã K, thị xã L, tỉnh Tiền Giang. (xin vắng mặt).
5/ Nguyễn Văn Lộc A, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số 1/31 khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Tiền Giang. (xin vắng mặt).
6/ Cu Đ, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 26/511 khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 16/9/2020, Nguyễn Văn Bé N điều khiển xe mô tô biển số 59G1-534.74 đi chơi. Khi đi ngang nhà anh Châu Bá T, sinh năm 1999, ngụ ấp, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, thấy nhà không có khóa cửa, nên Bé N có ý định trộm cắp tài sản. Bé N đậu xe mô tô phía trước và đi đến giường ngủ trước cửa nhà của anh T lấy trộm 01 máy điện thoại di động hiệu sam sung J7 màu vàng đang để trên đầu nằm bỏ vào túi quần. Tiếp đến, Bé N lấy chìa khóa tại nơi anh T đang nằm ngủ, rồi xuống cửa nhà sau đẩy cửa vào và đi lên nhà trên lấy máy tính xách tay, bàn phím, bộ tản nhiệt để trên bàn, dùng chìa khóa mở cốp xe mô tô biển số 63B2-003.58 của anh T lấy cái bóp da cất vào túi quần . Sau đó, Bé N đem máy tính để trước ba ga xe mô tô biển số 59G1-534.74 và điều khiển về ao cá của anh Nguyễn Văn Lộc A ở phường B, thị xã L. Tại đây Bé N gặp Đặng Văn M, sinh năm 1992, địa chỉ ấp M, xã K, thị xã L, tỉnh Tiền Giang, M hỏi Bé N cho quá giang về nhà của M, Bé N đồng ý, Mến chở Bé N về, trên đường đi M hỏi “máy tính xách tay ở đâu có nhưng Bé N không trả lời”. Khi về đến nhà M đi tắm, còn Bé N đem máy tính xách tay, bàn phím, bộ phận tản nhiệt cất dấu phía sau nhà của M. Sau đó cả hai quay lại ao cá của anh Lộc A, tại đây Bé N kiểm tra trong bóp vừa trộm được có số tiền Việt Nam 2.100.000đ cất vào túi, còn giấy tờ Bé N bỏ mất. Đồng thời tại ao cá, Bé N gặp Nguyễn Văn B, sinh năm 2000 địa chỉ: ấp L, xã V, huyện P, tỉnh An Giang, B mượn điện thoại Samsung mà Bé N vừa trộm được chơi game, B nhìn thấy có tin nhắn đến, nội dung bị mất điện thoại xin chuộc lại giá 200.000 đồng, do đang cần tiền nên B tự hẹn với người xin chuộc điện thoại tại ngã tư C. Bỏng trả lại điện thoại cho Bé N, đi ra ngã tư C chưa nhận được tiền thì bị Công an mời làm việc. Bé N đem điện thoại qua phòng trọ của Cu Đ, sinh năm 1983 tại khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang để cất giấu, sau đó thì bị Công an bắt giữ.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô loại Axelo màu xanh lá cây, biển số 59G1-534.74, số tiền Việt Nam 1.000.000đồng, một máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen Core i5, 01 bàn phím nhãn hiệu Meetion màu đen, Madeinchina MT-K202, 01 quạt tản nhiệt nhãn hiệu Deep cool màu đen made in china.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu vàng, bị can lấy trộm của anh T, sau đó đem về nhà trọ Cu Đ cất giấu, tuy nhiên đến khi cơ quan công an đến truy tìm và thu giữ, nhưng không tìm được điện thoại.
Đối với số giấy tờ gồm giấy chứng minh nhân dân và giấy phép láy xe của Châu Bá T, sau khi bị cáo trộm được đã bỏ lại tại ao cá của anh Nguyễn Văn Lộc A, cơ quan điều tra có tổ chức truy tìm không có.
Bản kết luận định giá tài sản số 102/KL-HĐĐGTS ngày 25/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cai Lậy, kết luận:01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen hiệu VOS143468 K5P6W14 trị giá 9.303.000đồng, 01 bàn phím rời màu đen của máy tính hiệu Meetion trị giá 100.000đồng, 01 bộ tản nhiệt màu đen của máy tính xách tay hiệu Deepcool trị giá 75.000đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 năm 2018 màu vàng đồng trị giá 2.995.000đồng, tổng giá trị là 12.473.000đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Châu Bá T đã nhận lại 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen Core i5, 01 bàn phím nhãn hiệu Meetion màu đen Madeinchina MT-K202, 01 quạt tản nhiệt nhãn hiệu Meetion màu đen made in china. Sau khi nhận lại tài sản anh T yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000đồng đối với tài sản và tiền chưa nhận lại được.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Bé N thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng truy tố.
Tại cáo trạng số 25/CT- VKSHCL ngày 09/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố bị cáo Nguyễn Văn Bé N về tội “Trộm cắp tài sản”, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình trả lại anh Châu Bá T 1.000.000đ; Tiếp tục tạm giữ xe mô tô loại Axelo màu xanh lá cây, biển 59G1-534.74 đã qua sử dụng để giải quyết theo quy định. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000đồng đối với số tiền và tài sản bị mất, tuy nhiên bà Cao Thị P, công ty trò chơi điện tử TP giao nộp 1.000.000đ tiền bị cáo trộm của anh T chơi thua máy công ty nên trả lại anh T và được trừ vào số tiền 5.000.000đ anh T yêu cầu vậy bị cáo phải bồi thường cho anh T 4.000.000đ, tại Tòa bị cáo đồng ý bồi thường đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Bé N thừa nhận vào khoảng 01 giờ ngày 16/9/2020 Nguyễn Văn Bé N điều khiển xe mô tô biển số 59G1-534.74 đi chơi. Khi đi ngang nhà anh Châu Bá T, sinh năm 1999, ngụ ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, thấy nhà không có khóa cửa, nên Bé N có ý định trộm cắp tài sản. Bé N đậu xe mô tô phía trước và đi đến giường ngủ trước cửa nhà của anh T lấy trộm 01 máy điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu vàng đang để trên đầu nằm bỏ vào túi quần. Tiếp đến, Bé N lấy chìa khóa tại nơi anh T đang nằm ngủ, rồi xuống cửa nhà sau đẩy cửa vào và đi lên nhà trên lấy máy tính xách tay, bàn phím, bộ tản nhiệt để trên bàn, dùng chìa khóa mở cốp xe mô tô biển số 63B2-003.58 của anh T lấy cái bóp da cất vào túi quần, trong bóp có số tiền Việt Nam 2.100.000đ và giấy tờ. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 14.573.000 đồng nên có đủ căn cứ để tuyên bố bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bản thân bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là phạm tội nhưng vì lòng tham lam, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần đối với người bị hại mà còn làm mất an ninh trật tự, gây hoang mang cho người dân sinh sống tại địa phương, do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Xét thấy, bị cáo có 02 tiền sự: Lần thứ nhất ngày 07/6/2018, Công an thị xã L, tỉnh Tiền Giang quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác với số tiền 2.500.000đ, bị can chưa chấp hành; Lần hai ngày 04/4/2019, Ủy ban nhân dân phường N quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 3 tháng từ ngày 04/4/2019 đến ngày 04/7/2019 và 01 tiền án ngày 22/11/2019, Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Tiền Giang xử bị cáo 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 30/6/2020 chưa xóa án tích mà bị cáo lại tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, người bị hại đã nhận lại tài sản là 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen Core i5, 01 bàn phím nhãn hiệu Meetion màu đen Madeinchina MT-K202, 01 quạt tản nhiệt nhãn hiệu Deep cool màu đen made in china. Sau khi nhận lại tài sản anh T yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000đồng trị giá điện thoại Samsung theo định giá là 2.995.000đồng và số tiền 2.100.000đồng chưa nhận lại được. Xét thấy yêu cầu của anh T là có cơ sở, tuy nhiên hiện nay Chi cục thi hành án dân sự đang tạm giữ số tiền 1.000.000đ do bà Cao Thị P, công ty trò chơi điện tử TP giao nộp là tiền bị cáo trộm của anh T, trả lại anh T nên được trừ vào số tiền 5.000.000đ anh T yêu cầu, do đó buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho anh T 4.000.000đ là phù hợp, tại Tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Xét thấy, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen Core i5, 01 bàn phím nhãn hiệu Meetion màu đen Madeinchina MT-K202, 01 quạt tản nhiệt nhãn hiệu Deep cool màu đen made in china quá trình điều tra xác định của bị hại anh Châu Bá T nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cai Lậy đã giao trả tài sản cho anh T là có căn cứ.
Đối với số tiền 1.000.000đồng, bị cáo đã lấy trộm của anh Châu Bá T dùng chơi game tại công ty trò chơi điện tử TP thua máy công ty, bà Cao Thị P đã giao nộp. Xét thấy đây là tài sản của anh T nên Hội Đồng xét xử quyết định trả lại anh T là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô loại Axelo màu xanh lá cây, biển số 59G1-534.74 đã qua sử dụng bị cáo khai mua lại nhưng không có giấy tờ, đây là phương tiện nhà nước bắt buộc phải đăng ký có giấy tờ hợp lệ mới được lưu hành nhưng xe không có giấy tờ hợp lệ nên chưa xác định nguồn gốc xe bị cáo có từ đâu nên tiếp tục tạm giữ đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cai Lậy thông báo ai là chủ sở hữu có giấy tờ hợp lệ đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cai Lậy giải quyết. Nếu quá hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ.
Đối với số giấy tờ gồm giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe của anh Châu Bá T, sau khi bị cáo trộm được đã bỏ lại tại ao cá của anh Nguyễn Văn Lộc A, cơ quan điều tra có tổ chức truy tìm nhưng không có, anh T không có yêu cầu gì đối với các giấy tờ trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với Nguyễn Văn M không thực hiện hành vi trộm cắp với bị cáo, không biết bị cáo cất giữ máy tính xách tay, bàn phím và bộ giảm nhiệt tại nhà nên không có cơ sở truy tố M về tội trộm cắp.
Đối với Nguyễn Văn B biết điện thoại đi động hiệu Sam sung J7 mà B mượn của bị cáo không phải điện thoại của bị cáo, nhưng không tố giác tội phạm, tuy nhiên do bị cáo Bé N phạm tôi trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự nên không truy tố B về hành vi không tố giác tôi phạm theo quy định Điều 390 của Bộ luật hình sự.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Bé N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Bé N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/9/2020.
2. Về vật chứng vụ án:
- Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho anh Châu Bá T số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy đang tạm giữ.
Đối với 01 xe mô tô loại Axelo màu xanh lá cây, biển số 59G1-534.74 đã qua sử dụng tiếp tục tạm gữ. Đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cai Lậy thông báo ai là chủ sở hữu có giấy tờ hợp lệ đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cai Lậy giải quyết. Nếu quá hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589, 357 của Bộ luật dân sự.
Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Châu Bá T số tiền 4.000.000đồng.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành đối với phần tiền thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Bé N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Nôi nhaän:
| - TAND tænh Tieàn Giang - VKSND huyeän Cai Lậy - Chi cục THADS huyeän Cai Lậy - CAND huyeän Cai Lậy. - Ngöôøi tham gia toá tuïng - Löu | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa Nguyễn Kim Ngọc |