vanban.org

Bản án 26/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 20/12/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

VKSND tỉnh Bình Thuận; Cục THADS tỉnh Bình Thuận; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Thanh H khởi kiện ly hôn Ông Lương Cảnh H1"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày 20-12-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Tám;

2. Bà Nguyễn Thị Tố Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 31/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1976 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: 165/18 L, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Lương Cảnh H11, sinh năm 1950; Quốc tịch: Canada; Số hộ chiếu: HN 463563, cấp ngày 06/01/2017 tại Canada (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: 183 T RD W ON L4H 1L9, CANADA.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Bà và Ông Lương Cảnh H1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2014, quyển số 01/2014, ngày 06/02/2014. Sau khi kết hôn, hai người phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về lối sống. Bà và ông H1 không có nhiều thời gian ở bên nhau để có thể tìm hiểu, đồng cảm do hai người sống ở hai nơi, chỉ nói chuyện với nhau qua các phương tiện điện thoại, mạng xã hội, tình cảm giữa bà và ông H1 ngày càng xa cách, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết cho bà ly hôn với Ông Lương Cảnh H1.

- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn Ông Lương Cảnh H1 trình bày: Ông và Bà Nguyễn Thị Thanh H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2014, quyển số 01/2014, ngày 06/02/2014. Sau khi kết hôn, ông và bà H chỉ có được thời gian ngắn bên nhau tại Việt Nam rồi ông lại quay trở về sống tại Canada. Do vậy ông và bà H không có được cuộc sống vợ chồng đúng nghĩa để đồng cảm, yêu thương, tình cảm vợ chồng đã không còn, quan hệ hôn nhân chỉ tồn tại về mặt pháp luật. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H, ông có ý kiến như sau::

- Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà H.

- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm: + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 123, khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Bà Nguyễn Thị Thanh H. Bà Nguyễn Thị Thanh H và Ông Lương Cảnh H1 đều trình bày giữa hai bên không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn Ông Lương Cảnh H1 nên Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp “Tranh chấp ly hôn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thanh H đang cư trú tại tỉnh Bình Thuận khởi kiện bị đơn Ông Lương Cảnh H1 hiện đang cư trú ở Canada nên căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thanh H và bị đơn Ông Lương Cảnh H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông H1.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H và Ông Lương Cảnh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2014, quyển số 01/2014, ngày 06/02/2014 tại Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận. Theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, bà H và ông H1 đều trình bày sau khi đăng ký kết hôn hai người chỉ có được thời gian ngắn bên nhau tại Việt Nam rồi ông H1 quay trở về sống tại Canada. Từ đó, hai người không còn chung sống với nhau để đồng cảm, yêu thương, tình cảm vợ chồng đã không còn. Cả bà H và ông H1 đều đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ giữa hai bên không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho Bà Nguyễn Thị Thanh H và Ông Lương Cảnh H1 được ly hôn.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh H và Ông Lương Cảnh H1 đều trình bày giữa hai bên không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; điểm c khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 123; khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thanh H. 1. Bà Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với Ông Lương Cảnh H1. 2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu tiền số 0008134 ngày 16/9/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Bà Nguyễn Thị Thanh H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. 3. Bà Nguyễn Thị Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Ông Lương Cảnh H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ