vanban.org

Bản án 26/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Hứa Thị Th được ly hôn anh Đoàn Đức Nh.

Về con chung: Giao con chung Đoàn Tuấn Khoa, sinh ngày 17-11-2017 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Đoàn Đức Tuấn, sinh ngày 06-01-2008 cho anh Nh trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 26/2021/HNGĐ-ST Tuyên án 26/04/2021
Phúc thẩm Bản án 22/2021/HNGĐ-PT Tuyên án 10/11/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn vì mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Hứa Thị Th được ly hôn anh Đoàn Đức Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày 26-4-2021
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Tâm;

- Bà Phạm Thị Khanh;

-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2021 về việc “ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2021/QĐST - HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hứa Thị Th; trú tại: Thôn Đ, xã T Đ, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

Bị đơn: Anh Đoàn Đức Nh; trú tại: Thôn Đ, xã T Đ, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Hứa Thị Th trình bày: Chị và anh Đoàn Đức Nh kết hôn với nhau tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 04 tháng 04 năm 2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, nghi ngờ lẫn nhau trong quan hệ tình cảm. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình động viên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2020, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Đức Nh.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đoàn Đức Tuấn, sinh ngày 06-01-2008 và Đoàn Tuấn Khoa, sinh ngày 17-11-2017. Hiện nay cả hai con chung đang ở với anh Nh, tuy nhiên sau khi vợ chồng sống ly thân con chung Đoàn Tuấn Khoa ở với chị sau đó anh Nh đến đón về và từ đó chị không được gặp con. Nếu ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đoàn Tuấn Khoa, giao con chung Đoàn Đức Tuấn cho anh Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh Nh.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Anh Đoàn Đức Nh xác nhận về thời gian, hoàn cảnh và điều kiện kết hôn như chị Th trình bày là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì nhưng anh không hiểu vì lý do gì chị Th lại bỏ về gia đình nhà ngoại sống. Anh đã đến tìm nhiều lần nhưng chị Th không về. Vợ chồng hiện đã sống ly thân. Nay chị Th xin ly hôn, anh đề nghị giải quyết theo quan điểm của chị Th.

Về con chung: Anh xác nhận về con chung như chị Th trình bày là đúng. Hiện nay cả hai con chung đang ở với anh. Trường hợp ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.Về cấp dưỡng nuôi con chung anh đề nghị giải quyết theo quan điểm của chị Th. .

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Hứa Thị Th được ly hôn với anh Đoàn Đức Nh. Về con chung: Giao con chung Đoàn Đức Tuấn, sinh ngày 06-01-2008 cho anh Nh trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Đoàn Tuấn Khoa, sinh ngày 17-11-2017 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết. Tài sản chung không xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Anh Đoàn Đức Nh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T Đ, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Hứa Thị Th và anh Đoàn Đức Nh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Anh Đoàn Đức Nh hai lần vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Đoàn Đức Nh.

. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa chị Hứa Thị Th và anh Đoàn Đức Nh phát sinh từ ngày 04-4-2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, nghi ngờ lẫn nhau trong quan hệ tình cảm. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Th yêu cầu được ly hôn. Anh Nh xác định vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, anh đã đến tìm nhiều lần nhưng chị Th không về, chị Th xin ly hôn, anh đề nghị giải quyết theo quan điểm của chị Th. Qua xác minh tại địa phương thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Vợ chồng hiện đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó có căn cứ để xử cho chị Hứa Thị Th được ly hôn với anh Đoàn Đức Nh theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đoàn Đức Tuấn, sinh ngày 06-01-2008 và Đoàn Tuấn Khoa, sinh ngày 17-11-2017. Ly hôn, chị Th đề nghị giao con chung Đoàn Tuấn Khoa cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Đoàn Đức Tuấn cho anh Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Tòa xét, con chung Đoàn Đức Tuấn và Đoàn Tuấn Khoa đang ở với anh Nh được anh Nh chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Tuy nhiên, con chung Đoàn Tuấn Khoa còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Chị Th và anh Nh đều có chỗ ở và Th nhập ổn định. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu giải quyết về con của chị Th là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự giải quyết.

.Về tài sản chung: Không xét giải quyết.

. Về án phí: Chị Hứa Thị Th phải chịu án phí sơ thẩm dân sự về ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình,

Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Hứa Thị Th được ly hôn anh Đoàn Đức Nh.

2. Về con chung: Giao con chung Đoàn Tuấn Khoa, sinh ngày 17-11-2017 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Đoàn Đức Tuấn, sinh ngày 06-01-2008 cho anh Nh trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không xét giải quyết.

4. Án phí: Chị Hứa Thị Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Th đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ tại Biên lai Th số 17477 ngày 27-01-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Chị Th đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ