- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị Thanh.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2021 “V/v: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Hùng.
2. Bà Đinh Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2021và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/QĐHTP-TA, ngày 20/7/2021 giữa các đương sự:
Nguyªn ®¬n: Chị Triệu Thị Th - sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm Rịa 2, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Hà Văn V - sinh năm 1986
Địa chỉ: Xóm Rịa 2, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
(Chị Thanh có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Triệu Thị Thanh trình bày:
Năm 2005 chị Triệu Thị Th và anh Hà Văn V tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Khả Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh Vụ tại xóm Rịa 2, xã Võ Miếu. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng gặp khó khăn về kinh tế nên cả hai bên đều phải đi làm ăn xa dẫn đến vợ chồng nghi ngờ sự chung thủy của nhau. Anh Vụ thường xuyên hay uống rượu rồi vô cớ đánh đập chị. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh Vụ vẫn không thay đổi dẫn mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Đỉnh điểm của sự mâu thuẫn vợ chồng là dịp tết âm lịch 2021, anh Vụ uống rượu vác dao đuổi đánh chị, lúc đó chị đã phải chạy thoát thân. Theo chị Thanh, chị và anh Vụ đã sống ly thân không còn quan hệ về mặt tình cảm từ tháng 02/2021 đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Vụ không còn, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho nhau nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vụ để giải phóng cho cả hai.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hà Thị Kiều Oanh, sinh ngày 15/01/2006 và cháu Hà Mạnh Huy, sinh ngày 11/6/2008. Khi ly hôn chị Thanh xin được nuôi cháu Oanh và giao cho anh Vụ được nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cháu Huy. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hiện nay chị Thanh đang làm ruộng và làm thêm tại đại phương thu nhập khoảng 6.000.000đồng/ tháng.
Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung nhưng không đề nghị Tòa án gải quyết.
Về nợ chung, công sức đóng góp: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn, anh Hà Văn Vụ không có mặt tại phiên tòa nhưng đã thể hiện quan điểm tại Bản tự khai và biên bản hòa giải tại Tòa án như sau:
Anh Vụ xác nhận về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng, về con chung và tài sản; Công nợ, công sức, như chị Thanh trình bày là đúng. Nhưng theo anh Vụ những mâu thuẫn phát sinh trong cuộc sống chung chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, vợ chồng cũng có những lúc va chạm với nhau, cũng có lần anh đánh chị Thanh. Nay chị Thanh xin ly hôn anh không đồng ý vì anh muốn các con đầy đủ bố mẹ. Nếu ly hôn anh xin nuôi cả hai con chung và yêu cầu chị Thanh phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung theo qui định của pháp luật. Về quan hệ tài sản, công nợ và công sức anh không yêu cầu giải quyết.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ các quy định của BLTTDS về phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo qui định của BLTTDS.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83- Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị Thanh, xử cho chị Thanh được ly hôn anh Vụ. Về con chung: Giao cho chị Thanh được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Hà Thị Kiều Oanh, sinh ngày 15/01/2006; Giao cho anh Vụ được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Hà Mạnh Huy, sinh ngày 11/6/2008 cho đến khi các cháu thành niên. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, công nợ và công sức: Chị Thanh và anh anh Vụ đều không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Thanh phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Triệu Thị Thanh và anh Hà Văn Vụ, đều có nơi cư trú tại xã Võ Miếu- huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ. Ngày 12/4/2021, chị Thanh nộp đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn giải quyết. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35- Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Xét về sự vắng mặt của các đương sự : Ngày 29/7/2021, chị Triệu Thị Thanh nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại Tòa án. Anh Hà Văn Vụ được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1+3 Điều 228; Điều 238- Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Những phân tích đánh giá của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tình trạng hôn nhân của chị Thanh anh Vụ là có căn cứ bởi lẽ: Quan hệ hôn nhân giữa chị Triệu Thị Thanh và anh Hà Văn Vụ là hợp pháp, được UBND xã Khả Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ cấp chứng nhận đăng ký kết hôn số 15/2005, ngày 08/7/2005 (BL01). Quá trình chung sống cả hai không cùng nhau xây dựng mối quan hệ hôn nhân bền vững hạnh phúc, mà đều có ý thức buông xuôi khi mâu thuẫn vợ chồng phát sinh. Cuộc sống chung vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng đến mức chị Thanh phải đơn phương xin ly hôn anh Vụ để tím lối thoát cho mình.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Cả chị Thanh và anh Vụ đều xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thường sẩy ra mâu thuẫn, căng thẳng nhất từ năm 2015 đến nay, mỗi khi anh Vụ uống rượu là lại kiếm cớ cãi nhau rồi đánh chị. Khoảng thời gian từ năm 2015 đến trước khi chị nộp đơn ly hôn, chị Thanh đã tạo nhiều cơ hội cho anh Vụ để cùng nhau hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng anh Vụ không thay đổi, vẫn chứng nào tật ấy nên trong cuộc sống chung đã tạo nhiều áp lực cho nhau. Đỉnh điểm sự mâu thuẫn là tháng 02/2021, anh Vụ uống rượu say rồi cầm dao dồn đuổi chị Thanh, khiến tình trạng hôn nhân của vợ chồng ngày càng thêm bế tắc, vợ chồng cũng sống ly thân luôn từ đó đó đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Sự xác nhận của chị Thanh, anh Vụ phù hợp với xác minh của Tòa án về tình trạng hôn nhân của vợ chông anh chị tại nơi cư trú (BL 30). Như vậy đủ căn cứ chứng minh trong cuộc sống chung anh Vụ thường xuyên có hành vi bạo lực với chị Thanh. Phía anh Vụ không đồng ý ly hôn nhưng anh không có biện pháp tích cực nào để hóa giải mâu thuẫn vợ chồng mà anh chỉ đưa ra lý do không muốn các con thiếu vắng cha mẹ là không đủ thuyết phục. Tại khoản 1 Điều 56- Luật hôn nhân và gia đình qui định “ Khi vợ hoặc chồng có yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng…”.
Từ những nhận định trên, đủ cơ sở kết luận: Mâu thuẫn vợ chồng chị Thanh, anh Vụ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thực tế cuộc hôn nhân không còn tồn tại nên cần xử cho chị Thanh được ly hôn anh Vụ là phù hợp khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Xét nguyện vọng xin nuôi con của chị Thanh và anh Vụ là chính đáng vì cả hai đều có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng các con chung. Nhưng hai con chung của anh chị là cháu Kiều Oanh và Mạnh Huy đều trên 7 tuổi có quyền thể hiện ý chí lựa chọn ở cùng bố hoặc mẹ khi ly hôn. Xét thấy: Tại bản tự khai ngày 21/5/2021 (BL25+ 26), cháu Hà Mạnh Huy có nguyện vọng được ở với bố, cháu Hà Thị Kiều Oanh có nguyện vọng ở với mẹ. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển tốt nhất về mọi mặt cho các con chưa thành niên khi bố mẹ ly hôn, cần giao cho anh Vụ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Mạnh Huy- sinh ngày 11/6/2008; Giao cháu Hà Thị Kiều Oanh, sinh ngày 15/01/2006, cho chị Thanh trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu thành niên tự lực được. Chị Thanh, anh Vụ không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ qui định tại các Điều 81, 82 và 83- Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Chị Thanh và anh Vụ đều xác nhận vợ chồng có tài sản chung nhưng không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về nợ chung, công sức đóng góp: Chị Thanh và anh Vụ đều xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Triệu Thị Thanh phải nộp toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1+3 Điều 228, Điều 238; khoản 1 Điều 273 – BLTTDS ; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị Thanh. Cho chị Triệu Thị Thanh được ly hôn với anh Hà Văn Vụ.
2. Về con chung: Giao cho chị Triệu Thị Thanh được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Hà Thị Kiều Oanh, sinh ngày 15/01/2006 ; Giao cho anh Hà Văn Vụ được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là cháu Hà Mạnh Huy, sinh ngày 11/6/2008 đến khi các cháu thành niên. Chị Thanh anh Vụ không phải cấp dưỡng nuôi con chung .
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ với con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Triệu Thị Thanh phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Thanh đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2020/0003488 ngày 14/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi cư trú đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm ./.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.".
| Nơi nhận: - - Các đương sự; - - VKS huyện, tỉnh; - - Cơ quan THADS huyện; - - UBND xã Võ Miếu; - - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Thị Bích Thủy |