vanban.org

Bản án 26/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn Anh Đinh Văn K.

Về con: Giao 02 cháu Đinh Thị Thanh L, sinh ngày 26/4/2005 và Đinh Trần Bảo C, sinh ngày 04/02/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đinh Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Chị Trầ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị T-Đinh Văn K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn Anh Đinh Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 03-6-2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thắm

2. Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa:

Bà: Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2021/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/20201/QĐXX-ST, ngày 22 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T - Sinh năm: 1980

HKTT: Thôn An Thọ, xã Nga V, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi ở hiện nay: Tiểu khu Tập Cát 2, thị trấn NC, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Đinh Văn K - Sinh năm: 1982

Địa chỉ: Thôn An Thọ, xã Nga V, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 04/3/2021 và bản tự khai, nguyên đơn Chị Trần Thị T trình bày: chị và Anh K kết hôn với nhau vào ngày 03/7/2004, trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Nga V cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: do tình cảm vợ chồng không còn hòa hợp, quan điểm sống khác biệt nhau. Chị và các con đã trở về nhà mẹ đẻ ở thị trấn NC sinh sống từ đó cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị và Anh K không còn tình cảm, quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Nay chị đề nghị Tòa giải quyết ly hôn Anh K theo quy định; Về con: vợ chồng có 02 con chung là Đinh Thị Thanh L, sinh ngày 26/4/2005 và Đinh Trần Bảo C, sinh ngày 04/02/2009. Hiện tại các cháu đang ở cùng chị. Sau ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi các cháu, không yêu cầu Anh K cấp dưỡng nuôi con chung.Về tài sản: vợ chồng không có tài sản chung nên chị không yêu cầu.

Đối với bị đơn Anh Đinh Văn K có ý kiến trình bày: Về ngày tháng năm kết hôn, cơ sở của việc kết hôn anh nhất trí như ý kiến Chị T. Về nguyên nhân mâu thuẫn: do anh cũng mắc một số sai lầm, anh mong chị T cho anh cơ hội để khắc phục sửa chữa.Thời gian gần đây chị T có thái độ, tính tình không như trước nên vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Chị T đề nghị ly hôn, anh không đồng ý; Về con: anh thống nhất như nội dung chị T đã trình bày. Nếu chị T cương quyết ly hôn anh, anh đề nghị được nuôi 02 cháu, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, các cháu lựa chọn ở với ai là quyền của các cháu.; Về tài sản: anh không yêu cầu Tòa giải quyết.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Mặc dù Anh K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn Anh K; về con chị đề nghị được nuôi 2 cháu, không yêu cầu Anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chị không yêu cầu giải quyết. Đối với bị đơn Anh K, được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt Anh K.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn Anh K. Về con: giao hai cháu Đinh Thị Thanh L, sinh ngày 26/4/2005 và Đinh Trần Bảo C, sinh ngày 04/02/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị T phải chịu án phí DSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

* Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Đinh Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.Theo các đương sự trình bày: sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2013, thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: do Anh K mắc một số sai lầm, anh mong muốn chị T cho anh cơ hội để vợ chồng cùng nhau xây dựng cuộc sống chung; chị T không chấp nhận, dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, nhiều mâu thuẫn xảy ra. Vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2013 đến nay. Nay Chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn Anh K; Anh K cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn, nên anh không đồng ý ly hôn. Xét cuộc sống chung của chị T và Anh K đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn Anh K là phù hợp quy định của pháp luật.

Về con: Vợ chồng có 02 con chung là Đinh Thị Thanh L, sinh ngày 26/4/2005 và Đinh Trần Bảo C, sinh ngày 04/02/2009. Hiện tại các cháu đang ở cùng chị. Sau ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi các cháu, không yêu cầu Anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét đề nghị của chị T được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Anh K cấp dưỡng nuôi con chung là chính đáng. Qua xác minh tại xã Nga V thì các cháu và chị T không sinh sống tại xã Nga V. Hiện tại chị T và các cháu đang ở nhà bố mẹ đẻ chị T tại Tiểu khuTập Cát 2, thị trấn NC, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa ổn định. Nguyện vọng hai cháu mong muốn được ở cùng mẹ. Để đảm bảo quyền lợi cũng như sự chăm sóc các cháu về mọi mặt và ổn định cuộc sống, nên giao cho Chị T trực tiếp nuôi dưỡng các cháu là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn Anh Đinh Văn K.

2. Về con: Giao 02 cháu Đinh Thị Thanh L, sinh ngày 26/4/2005 và Đinh Trần Bảo C, sinh ngày 04/02/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đinh Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0010989 ngày 04/3/2021 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị T đã nộp đủ án phí DSST.

4. Quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ