vanban.org

Bản án 26/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Th.

Về hôn nhân: Bà Lưu Thị Th ly hôn ông Ngô Quang Ng. Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2013, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã VH cấp vào ngày 22/10/2013 cho bà Lưu Thị Th và ông Ngô Quang Ng hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 15-3-2021
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Bình.

2/ Ông Hà Văn Thuận.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Cao Quốc Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 514/2020/TLST-HN&GĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Th, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số nhà 42, đường số 34, thôn 3, xã VH, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Ngô Quang Ng, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Số nhà 04, đường số 51, thôn 5, xã VH, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên toa, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Bà Th và ông Ng tự nguyên tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VH vào ngày 22/10/2013, theo giấy chứng nhận kết hôn số 70/2013; sau khi kết hôn thì bà Th và ông Ng sống chung tại địa chỉ số nhà 04, đường số 51, thôn 5, xã VH, huyện Đức Linh; cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Ng chơi số đề, rượu chè, ghen tuông và đánh đập bà Th, ông Ng đi làm ăn xa và hai ông bà không còn chung sống như vợ chồng; bà Th đã một lần nộp đơn xin ly hôn ông Ng, qua quá trình hòa giải tại Tòa án thì bà Ng đã tự nguyện rút đơn để bà và ông Ng đoàn tụ tiếp tục chung sống với nhau, tuy nhiên ông Ng cũng không thay đổi và tiếp tục đánh đập bà; Nay bà Th xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Ng, đời sống chung không thể kéo dài được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ng.

- Về con chung: Giữa bà Th và ông Ng có hai con chung tên Ngô Thị Kim T, sinh năm 2014 và Ngô Quang H, sinh năm 2016; bà Th yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của bà Th.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn đối với ông Ng, yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhập yêu cầu khởi kiện của bà Th, cụ thể:

Về hôn nhân: Bà Th ly hôn ông Ng.

Về con chung: Bà Th có quyền, nghĩa vụ trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung. Ông Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn bà Lưu Thị Th khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn Ngô Quang Ng; ông Ng có nơi đăng ký hộ khẩn thường trú tại xã VH, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Về tố tụng: Bị đơn là ông Ngô Quang Ng đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án; các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2.

Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử vắng mặt bị đơn Ngô Quang Ng.

Về chứng cứ: Bị đơn không nộp tài liệu, chứng cứ và văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án căn cứ tài liệu chứng cứ đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 70/2013, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã VH cấp vào ngày 22/10/2013, có căn cứ khẳng định bà Th và ông Ng kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VH. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông Ng được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Bà Th và ông Ng tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến hôn nhân; sau khi tổ chức lễ cưới thì bà Th và ông Ng sống chung với gia đình ông Ng, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân nâu thuẫn theo lời khai của bà Th là do ông Ng hay chơi số đề, rượu chè, ghen tuông và đánh đập bà; bà Th cho rằng giữa bà và ông Ng hiện tại không còn quan hệ như vợ chồng, hai bên đã ly thân, thời gian ly thân hai bên không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ tình cảm, qua hòa giải và tại phiên tòa bà Th đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết yêu cầu được ly hôn ông Ng; qua nội dung xác minh đối với ông Ngô Văn P (cha ruột của ông Ngô Quang Ng) vào ngày 12/01/2021 (Bút lục 29) thì thấy rằng mâu thuẫn hôn nhân giữa bà Th và ông Ng là có thật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ng không tham gia hòa giải và không tham gia phiên tòa hôm nay, mặc dù ông Ng biết được yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Th. Điều đó cho thấy ông Ng không thiết tha hàn gắn, níu kéo tình cảm vợ chồng, chăm sóc con cái và xây dựng gia đình hạnh phúc. Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và Gia đình quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” thì mục đích hôn nhân mới đạt được.

Từ những phân tích trên cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông Ng đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th đối với ông Ng.

Về con chung: Căn cứ giấy khai sinh số 190/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã VH cấp ngày 25/08/2014 và giấy khai sinh số 39/2016 do Ủy ban nhân dân xã VH cấp ngày 24/02/2016 thì có căn cứ khẳng định cháu Ngô Thị Kim T, sinh ngày 27/7/2014 và cháu Ngô Quang H, sinh ngày 16/02/2016 là con chung của bà Th và ông Ng; tại biên bản lấy lời khai lập ngày 23/02/2021, cháu Thúy nêu nguyện vọng được sống với bà Th sau khi bà và ông Ng ly hôn.

Sau khi ly hôn, bà Th yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con. Tòa án chưa ghi nhận ý kiến của ông Ng về vấn đề con chung. Xét thấy, công việc và thu nhập hiện tại của bà Th ổn định, đủ điều kiện nuôi con chung. Ngoài ra, khi bà Th và ông Ng sống ly thân thì cháu Thúy và cháu Hiếu sinh sống cùng với mẹ, cuộc sống vật chất và tinh thần ổn định, do đó không nên làm xáo trộn cuộc sống của con chung. Căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con và nguyện vọng của con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho bà Th quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T và cháu H. Ông Ng không trực tiếp nuôi con chung nhưng ông Ng vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, bà Th không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà Th và không xem xét giải quyết trong bản án này.

Về tài sản chung và nợ: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà Th về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản và nợ trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn Lưu Thị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 143, 144, 147, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 9, 51, 53, 54, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Th.

1. Về hôn nhân: Bà Lưu Thị Th ly hôn ông Ngô Quang Ng.

Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2013, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã VH cấp vào ngày 22/10/2013 cho bà Lưu Thị Th và ông Ngô Quang Ng hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho bà Lưu Thị Th quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Ngô Thị Kim T, sinh ngày 27/7/2014 và Ngô Quang H, sinh ngày 16/02/2016.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Ghi nhận ý kiến của bà Lưu Thị Th về việc không yêu cầu ông Ngô Quang Ng cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề tài sản, nợ chung.

4. Về án phí: Bà Lưu Thị Th phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004170 ngày 01/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Bà Lưu Thị Th đã nộp đủ tiền án phí.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/3/2021). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ