vanban.org

Bản án 26/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Vũ Kim N: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 39; Khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 13-01-2021
V/v: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Mỹ Kiều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Lân

2. Ông Nguyễn Văn Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 13 tháng 01 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1022/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2020 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 332/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Vũ Kim N– sinh năm 1988; Địa chỉ: 22/11 V, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc T– sinh năm 1985; Địa chỉ: 83/3 Y, Phường D, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là Bà Nguyễn Vũ Kim N trình bày: Bà và ông Nguyễn Phúc T chung sống với nhau từ năm 2010. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà đã nộp đơn ly hôn với Ông Tvào năm 2015. Tại bản án số 171/2016/HNGĐ-ST ngày 26/02/2016 của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Phương U, sinh ngày 04/5/2013 cho Bà Nguyễn Vũ Kim N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Phúc T được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Phúc A, sinh ngày 30/8/2010. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho Bà Nvà Ông Tdo các bên không có yêu cầu. Sau khi ly hôn một thời gian ngắn, Ông T bị bắt vì có liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Trẻ A ở với ông bà nội, bà vẫn phải chu cấp chi phí sinh hoạt cho con. Đến tháng 11/2020, Ông T bị tạm giữ tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân. Do đó bà yêu cầu được thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Phúc A, sinh ngày 30/8/2010 sau ly hôn, không yêu cầu Ông Tcấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn, ông Nguyễn Phúc T trình bày: Ông xác nhận ông và Bà Nguyễn Vũ Kim N đã ly hôn vào năm 2016 theo bản án số 171/2016/HNGĐ-ST ngày 26/02/2016 của Toà án nhân dân quận Tân Bình. Theo đó, ông được trực tiếp dưỡng trẻ Nguyễn Phúc A, Bà Nguyễn Vũ Kim N trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Ngọc Phương U. Nay Bà Nyêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, ông không đồng ý vì Bà Ncó lối sống lệch lạc và ông bà ngoại cũng không thương yêu cháu. Hiện nay, ông đang bị tạm giữ tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân nên không có khả năng trực tiếp nuôi con, đề nghị Tòa án giao Trẻ A cho ông bà nội nuôi. Ông đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Bà Nguyễn Vũ Kim N vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu Tòa án giao trẻ Nguyễn Phúc A – sinh ngày 30/8/2010 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng để thuận lợi cho việc chăm sóc và làm thủ tục chuyển cấp cho con. Sau khi bản án về việc ly hôn của bà và Ông Tcó hiệu lực pháp luật, bà thực hiện việc trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc trẻ Nguyễn Ngọc Phương U rất tốt. Bà muốn được trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Phúc A để hai con có điều kiện gần gũi với nhau. Bản thân bà việc làm ổn định, thu nhập cao nên bà có đủ điều kiện để nuôi cả hai con chung. Về việc cấp dưỡng, bà không yêu cầu Ông T cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Phúc T có đơn xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn – Bà Nguyễn Vũ Kim N nộp

đơn khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Bị đơn – Ông Nguyễn Phúc T có hộ khẩu thường trú tại 83/3 Y, Phường 11, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Xét thấy, ông Nguyễn Phúc T

có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng tại Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Phúc T.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Căn cứ bản án số 171/2016/HNGĐ-ST ngày 26/02/2016 của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Phương U, sinh ngày 04/5/2013 cho Bà Nguyễn Vũ Kim N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Phúc T được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Phúc A, sinh ngày 30/8/2010. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho Bà Nvà Ông Tdo các bên không có yêu cầu.

Sau khi Bà N và Ông T ly hôn, Trẻ A ở cùng Ông T và ông bà nội tại địa chỉ 83/3 Y, Phường 11, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cụ thể là yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Phúc A, sinh ngày 30/8/2010 vì theo bà N, Ông T có hành vi sử dụng chất ma túy trái phép và hiện đang tạm giữ tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân nên không có khả năng trực tiếp nuôi con. Hiện nay, Trẻ A đang ở với ông bà nội tuổi cao nên không đảm bảo điều kiện chăm sóc nuôi dạy Trẻ A được tốt. Hơn nữa, việc nuôi dạy cả hai con chung cũng giúp các con được hưởng tình cảm anh em ruột thịt trong gia đình. Bà N đã xuất trình các tài liệu thể hiện vị trí công tác là giám đốc bán hàng, thu nhập hàng tháng trung bình hơn 30.000.000 đồng và nơi ở ổn định đảm bảo điều kiện chăm sóc nuôi dạy Trẻ A tốt cả về thể chất lẫn tinh thần.

Theo Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con. Trẻ A xác nhận hiện cháu đang ở với ông bà nội và trình bày nguyện vọng muốn ở với mẹ với lý do mẹ là người chăm sóc tốt hơn.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì: Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Bà N đã chứng minh được việc Ông T không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con và đồng thời đưa ra các chứng cứ về điều kiện nuôi con của mình.

Do đó, căn cứ vào quyền lợi mọi mặt và nguyện vọng của Trẻ A, căn cứ

khoản 1 Điều 83, khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của bà Nguyễn Vũ Kim N, giao trẻ Nguyễn Phúc A, sinh ngày 30/8/2010 cho Bà Ntrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu Ông T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là

300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Vũ Kim N:

Giao trẻ Nguyễn Phúc A, sinh ngày 30/8/2010 cho Bà N trực tiếp trông

nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Vũ Kim N không yêu cầu Tòa án giải

quyết, nên Tòa án không xem xét.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có

thể thay đổi.

Ông Nguyễn Phúc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục

con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức

theo quy định có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn) đồng do ông Nguyễn Phúc Tphải chịu.

Hoàn lại cho Bà Nguyễn Vũ Kim N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

300.000 đồng (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0068797 ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Bà Nguyễn Vũ Kim N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Phúc T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được

quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

̀

̉

Cỡ chữ