- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Anh Vũ Quốc Tuấn khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con với chị Nguyễn Phương An"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ __________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:26/2021/HNGĐ - PT Ngày 23 tháng 8 năm 2021 V/v TrAh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Kim Ái.
Ông Nguyễn Hà GiAg.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Trương Thị Kim
Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2021/TLPT- HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2021 về việc “TrAh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”. Do Bản án h«n nh©n gia ®×nh sơ thẩm số: 18/2021/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 26/2021/QĐXXPT -
HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ah Vũ Quốc T, sinh năm 1981; ĐKHKTT: Tổ 13, phố Đ,
phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
Bị đơn: Chị Nguyễn Phương A, sinh năm 1983; ĐKHKTT: Tổ 11A, khu
H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn Ah Vũ Quốc T trình bày: Tại Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 278/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2019, Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Ah T, chị A. Về con chung: Giao cháu Vũ Khánh L, sinh ngày 07/7/2010; cháu Vũ Thu H, sinh ngày 25/01/2017 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, Anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A là 10.000.000đ/tháng kể từ tháng 8/2019.
Sau khi ly hôn chị A, cháu L và cháu H về sống cùng chị A tại số nhà 151, phố Long Châu Sa, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Anh T đến thăm nom, chăm sóc và đón các cháu tuy nhiên chị A gây khó khăn, cản trở, có chửi bới anh T. Anh T có báo cáo tổ trưởng khu dân cư nơi chị A sinh sống nhờ can thiệp thì anh T mới được đón các cháu. Vì chị A cản trở quyền thăm nom con của anh T nên anh T khởi kiện đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn: Giao 01 trong 02 con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày 07/7/2010; cháu Vũ Thu H, sinh ngày 25/01/2017 cho anh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Bị đơn chị Nguyễn Phương A trình bày: Chị A nhất trí với những lời trình bày của anh T về nội dung của Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 278/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2019. Về phần cấp dưỡng trong Quyết định thì anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng cho 02 con chung là 10.000.000đ tuy nhiên anh T đã vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng, không thực hiện theo đúng cam kết tại Quyết định. Hai cháu hiện nay đang sống với chị ổn định, luôn chăm sóc tốt cả về vật chất và tinh thần cho các cháu, chị có thu nhập và chỗ ở ổn định. Cháu H còn nhỏ, là con gái nên cần sự chăm sóc của mẹ, cháu L năm nay học lớp 5, kết quả học tập đang tốt, đang trong giai đoạn phát triển cần sự chăm sóc quan tâm của mẹ.
Việc anh T trình bày là chị cản trở quyền thăm nom các cháu của anh T là không đúng sự thật nên chị A không nhất trí với yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh T.
Tại B¶n ¸n h«n nh©n vµ gia ®×nh s¬ thÈm sè: 18/2021/HNG§-ST ngµy
09/6/2021 Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ ®· quyÕt ®Þnh:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Quốc T.
Giao con chung là cháu Vũ Thu H, sinh ngày 25/01/2017 cho anh Vũ Quốc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Giao con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày 07/7/2010 cho chị Nguyễn Phương A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Kháng cáo: Ngày 22/6/2021 chị Nguyễn Phương A có đơn kháng cáo với
nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết bác yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Quốc T, giao cho chị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Vũ Thu H.
Tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguyễn Phương A vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo. Chị Nguyễn Phương A giao nộp 01 Biên bản thoả thuận ghi ngày 25/7/2021.
Tại phiên toà anh Vũ Quốc T đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho anh
được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 01 cháu. Vì mỗi khi đến đón con chị A không cho anh đón, phải nhờ đến chính quyền can thiệp mới được đón con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc
chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự , chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Phương A. Sửa Bản án Hôn nhân và gia đinh sơ thẩm số 18/2021/HNGĐ-ST ngày 09/6/2021 của Tòa
̀ án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu, chứng cứ cã trong hå s¬ vô ¸n, ® îc xem
xét t¹i phiªn tßa và căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Hội đồng xét xử nhËn ®Þnh như sau:
. Xét nội dung kháng cáo chị Nguyễn Phương A đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm giải quyết bác yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Quốc T, giao cho chị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Vũ Thu H. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Vũ Quốc T và chị Nguyễn Phương A đều thống nhất xác định có hai con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày 07/7/2010, cháu Vũ Thu H, sinh ngày 25/01/2017. Xét thấy theo quy định tại Điều 71 Luâ ̣t hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ng ang nhau, cùng nhau chăm sóc , nuôi dưỡng con chưa thành niên nên n guyê ̣n vo ̣ng được nuôi con của chị A và anh T đều chính đáng. Anh T và chị A đều có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, có nhà riêng, có thu nhập ổn định, anh chị đều làm giờ hành chính có thời gian để chăm sóc con. Hơn nữa, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thấy rằng có việc chị A ngăn cản anh T đón con. Kể từ khi anh T và chị A ly hôn đến nay thì anh T mới được đón con 04 lần, trong đó có có 02 lần phải qua sự hòa giải của tổ trưởng tổ dân phố thì anh T mới được đón con.Tại phiên toà phúc thẩm, chị A có giao nộp 01 Biên bản thoả thuận về việc nuôi con. Và cũng tại toà chị thừa nhận có việc chị và anh T có to tiếng, cãi vã nhau khi anh T đến đón con chị không cho đón con và vì chị nể khu dân cư nên chị mới cho anh đón con, như vậy chị Nguyễn Phương A đã vi phạm Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay anh Vũ Quốc T không đồng ý biên bản thoả thuận ngày 25/7/2021 về việc nuôi con. Anh T trình bày biên bản thoả thuận đó anh chỉ đồng ý để chị Nguyễn Phương A chăm sóc cháu Vũ Thu H trong quá trình chờ giải quyết xét xử ở cấp phúc thẩm chứ không phải thoả thuận việc giao nuôi con. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay anh Vũ Quốc T đề nghị Hội đồng xét xử giao cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 cháu. Xét về điều kiện kinh tế anh T hiện nay đã có nhà riêng, có cổ phần trong công ty TNHH Nam Long, có thu nhập ổn định, có thời gian (Anh T làm theo giờ hành chính), do vậy việc giao cho mỗi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 cháu là phù hợp. Tuy nhiên khi xem xét , quyết đi ̣nh giao con chung để đảm cho sự phát triển của các con chung thi cần xem xét vào nguyện vọng của con từ
̀
đủ 7 tuổi trở lên, cháu Vũ Khánh L (11 tuổi) có nguyện vọng được ở với mẹ nên được chấp nhận. Xét về điều kiện nuôi con, công việc cũng như thu nhập, thời gian làm việc của anh T thì việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các điều kiện của các bên để cân nhắc giao con chung là cháu Vũ Thu H, sinh ngày 25/01/2017 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do vậy, kháng cáo của chị Nguyễn Phương A không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Phương A, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 18/2021/HNGĐ - ST ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
.Về án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do kháng cáo của chị Nguyễn
Phương A không được chấp nhâ ̣n nên chị Nguyễn Phương A phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYÕT §ÞNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấ p nhâ ̣n
kháng cáo của chị Nguyễn Phương A. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 18/2021/HNGĐ-ST ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Quốc T.
Giao con chung là cháu Vũ Thu H, sinh ngày 25/01/2017 cho anh Vũ
Quốc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Giao con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày 07/7/2010 cho chị Nguyễn
Phương A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không
được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở
hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Phương A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Tổng cộng chị A phải chịu 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí. Xác nhận chị Nguyễn Phương A đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lê ̣ phi
́ Tòa án số AA /2020/0000464 ngày 24/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Chị Nguyễn Phương A còn phải nộp 300.000đ tiền án phí.
Trả lại cho anh Vũ Quốc T số tiền đã nộp số tiền tạm ứng án phí
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2020/0000033 ngày 07/01/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo , không bi ̣
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - TAD TP. V; - CCTHADS TP. V; - Các đương sự; - Lưu: HS,AV; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Huyền |