vanban.org

Bản án 26/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Bui Thi S. Buộc bà Tran Thi L phải giao trả cho bà Bui Thi S số tiền nợ hụi là 79.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chap hop dong gop ho"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Bui Thi S. Buộc bà Tran Thi L phải giao trả cho bà Bui Thi S số tiền nợ hụi là 79.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/DS -ST
Ngày: 05 - 3 - 2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng góp họ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Minh Tuấn.

Ông Nguyễn Phùng Như

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thuý An – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 334/2020/TLST - DS, ngày 25 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp họ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/QĐST-DS, ngày 18 tháng 02 năm 2021 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Bui Thi S, sinh năm 1963 (có mặt).

Địa chỉ: Âp Cay H, xa Hoa A, huyện GR, tỉnh KG.

- Bị đơn:.Bà Tran Thi L, sinh năm 1972 (có mặt)

Địa chỉ: Âp Cay H, xa Hoa A, huyện GR, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Bui Thi S trình bày:

Vào ngày 06/8/2019 (âm lịch) đến ngày 06/8/2020 (âm lịch), bà L mở dây hụi 2.000.000 đồng, gồm có 12 hụi viên, bà tham gia 01 chân, bà là người lãnh hụi chót được số tiền là 22.000.000 đồng; Ngày 25/02/2020 âm lịch bà tham gia 02 chân hụi tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng, gồm có 16 hụi viên, bà đóng được 05 lần, thì bà L úp hụi.

Ngày 25/02/2020 bà có mua của bà L 01 chân hụi với số tiền 19.250.000 đồng và 09/4/2020 mua thêm 01 chân hụi số tiền là 18.000.000 đồng. Tổng cộng bà L nợ tiền hụi và tiền bà mua hụi là 79.250.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà L phải trả cho bà sô tiền hụi là 79.250.000 đồng (bảy mươi chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), bà không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Tran Thi L trình bày: Bà L xác nhận lời trình bày của bà S về thời gian tham gia hụi, số chân hụi tham gia và số tiền bà S mua hụi của bà là đúng. Nay bà còn nợ bà S số tiền là 79.250.000 đồng, bà đồng ý trả số tiền, nhưng do hiện tại hụi của bà bị bể, còn nhiều người nợ bà nên bà không có khả năng trả nợ trong một lần, bà xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và tại phiên toà Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà S yêu cầu bà L giao tiền hụi còn thiếu là 79.250.000 đồng, bà L thừa nhận số nợ, đồng ý trả và xin trả nợ dần mỗi tháng 500.000 đồng, nhưng không được nguyên đơn chấp nhận. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bui Thi S yêu cầu bà Tran Thi L giao số tiền hụi còn thiếu là 79.250.000 đồng. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Bị đơn bà Tran Thi L có địa chỉ nơi cư trú tại ap Cay H, xa Hoa A, huyen GR, tinh KG. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, đểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, bà S khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng là phù hợp với quy định.

Về nội dung tranh chấp:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các đương sự đều xác nhận thời gian mở hụi, số hụi viên tham gia, số tiền đóng hụi và mua hụi. Tổng cộng hiện tại bà L còn nợ bà S là 79.250.000 đồng.Tại phiên toà bà L thừa nhận còn nợ số tiền như bà S trình bày là đúng, nhưng xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Việc xin trả nợ dần này không được phía nguyên đơn chấp nhận.

Theo quy định tại Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về trách nhiệm của chủ họ do không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ:

Trường hợp đến kỳ mở họ mà chủ họ không giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ thì chủ họ có trách nhiệm đối với thành viên đó như sau:

1. Thực hiện đúng nghĩa vụ quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 18 của Nghị định này.

2. Trả lãi đối với số tiền chậm giao cho thành viên được lĩnh họ theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Nghị định này.

3. Chịu phạt vi phạm trong trường hợp những người tham gia dây họ có thỏa thuận phạt vi phạm theo quy định tại Điều 418 của Bộ luật dân sự.

4. Bồi thường thiệt hại (nếu có).

Xét thấy, việc tham gia chơi hụi, họ, biêu, phường là việc thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân, nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện tham gia mở hụi và góp hụi đã được các bên thống nhất với nhau số tiền hụi bà L là chủ họ phải có trách nhiệm giao lại cho bà S số tiền 79.250.000 đồng. Từ đó, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Tran Thi L phải trả cho nguyên đơn số tiền 79.250.000 đồng. Tại phiên toà bà L xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ, nhưng không được nguyên đơn chấp nhận, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 của BLTTDS, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Yêu cầu khởi kiện của bà Bui Thi S được chấp nhận nên bà S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Bui Thi S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.981.000 đồng (Một triệu, chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng), theo biên lai thu số 0005712, ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Bà Tran Thi L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền có trách nhiệm phải giao trả cho bà S là 79.250.000 đồng x 5% = 3.962.500 đồng (ba triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Bui Thi S. Buộc bà Tran Thi L phải giao trả cho bà Bui Thi S số tiền nợ hụi là 79.250.000 đồng (bảy mươi chín triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS.

2. Án phí:

Hoàn trả lại cho bà Bui Thi S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.981.000 đồng (Một triệu, chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng), theo biên lai thu số 0005712, ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Bà Tran Thi L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.962.500 đồng (ba triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7. 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ