- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Hà Thúy H - Bị đơn: Bà Ngũ Quí L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang A.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬ N 8 THÀNH PHỐ HOÀ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2021/DS - ST Ngày: 03/02/2021 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬ N 8 - THÀNH PHỐ HOÀ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thái Thục Hiền.
2. Bà Nguyễn Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Cao Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quaän 8 tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn- Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử sô thaåm công khai vụ án dân sự thụ lý số 292/2020/TLST - DS ngày 27 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thúy H, sinh năm: 1959 (Có mặt)
Địa chỉ: 218 tầng 3 lô A chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Phường A, Quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Ngũ Quí L, sinh năm: 1967 (Có mặt)
Địa chỉ: 1183/15 Phạm Thế Hiển, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.Ông Ngũ Trung H, sinh năm: 1986 (Có mặt)
Địa chỉ: 1183/15 Phạm Thế Hiển, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Nguyễn Quang A, sinh năm: 1948 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 218 tầng 3 lô A chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Phường A, Quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2020 cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hà Thúy H trình bày: Do cần tiền mua xe Innova ông H là con bà L và bà L hỏi vay của bà H số tiền 400.000.000 đồng. Bà H đồng ý cho bà L vay số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng, lãi suất 2%/tháng, theo giấy cam kết trả nợ ngày 26/10/2018.
Đến 30/9/2019 bà L có vay của ông Vũ số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Ông Vũ, bà L, bà H thỏa thuận chuyển số tiền bà L vay ông Vũ sang bà L vay bà H số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, theo giấy ghi nợ ngày 30/9/2010.
Ngày 27/9/2020, ông H viết giấy cam kết trả nợ với nội dung ông H, bà L thừa nhận nợ bà H số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Xin trả mỗi tháng là 10.000.000 (mười triệu) đồng, lần lượt cho đến khi dứt nợ và không tính lãi. Nhưng kể từ khi viết giấy cam kết, bà L và ông H không thực hiện đúng thỏa thuận. Do đó bà Hà Thúy H khởi kiện yêu cầu bà Ngũ Qúy Linh và ông Ngũ Trung H có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng và không tính lãi, thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Đối với ý kiến bà L trình bày có trả lãi cho bà H, thì bà H không thừa nhận.
Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn bà Ngũ Qúy Linh trình bày: Vào năm 2016 bà L có vay của bà H số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, mỗi tháng trả lãi là 4.000.000 (Bốn triệu) đồng.
Năm 2017 bà L vay của bà H số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, mỗi tháng trả lãi 4.000.000 (Bốn triệu) đồng.
Năm 2020 bà L có vay của ông Vũ số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Ông Vũ, bà L, bà H cùng thỏa thuận chuyển số tiền bà L vay ông Vũ sang bà L vay bà H số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, theo giấy ghi nợ ngày 30/9/2010.
Tại phiên tòa bà H khởi kiện bà L, thì bà L thừa nhận còn nợ bà H số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Đồng ý cùng với ông H là con bà L có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng, bằng phương thức mỗi tháng trả 10.000.000 (Mười triệu) đồng, lần lượt đến khi dứt nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngũ Trung H trình bày xác định lời trình bày của bà Ngũ Qúy Linh là mẹ ông H là đúng. Ông H đồng ý có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng, bằng phương thức mỗi tháng trả 10.000.000 (Mười triệu) đồng, lần lượt đến khi dứt nợ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dụng vụ án: căn cứ vào lời trình bày các đương sự và giấy cam kết trả nợ ngày 27/9/2020 với nội dung ông H, bà L thừa nhận nợ bà H số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng và xin trả mỗi tháng là 10.000.000 (Mười triệu) đồng là có cơ sở pháp luật. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang A có bản tự khai ngày 23/11/2020 xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[ 2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, trong đó bị đơn cư trú tại Quận 8. Vì vậy vụ tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về các yêu cầu và trách nhiệm của đương sự:
Căn cứ vào chứng cứ, cùng lời thừa nhận của đương sự có đủ cơ sở xác định bà Hà Thúy H và bà Ngũ Quí L, ông Ngũ Trung H đã xác lập hợp đồng vay tiền là bà L đã vay của bà H số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng, theo giấy cam kết trả nợ ngày 19/01/2017. Ngày 30/9/2019 ông Vũ, bà L, bà H thỏa thuận chuyển số tiền bà L vay ông Vũ sang bà L vay bà H số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, theo giấy ghi nợ ngày 30/9/2019.
Đến ngày 27/9/2020 ông H là con bà L có viết giấy cam kết trả nợ với nội dung ông H và bà L thừa nhận có nợ bà Hà Thúy H số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Xin trả mỗi tháng là 10.000.000 (Mười triệu) đồng, lần lượt cho đến khi dứt nợ và không tính lãi là có căn cứ pháp luật. Hợp đồng này là hợp đồng vay không có kỳ hạn và có lãi đúng theo Điều 463, Điều 466, Điều 467, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét ý kiến của bà H yêu cầu bà Ngũ Qúy Linh và ông Ngũ Trung H có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng và không tính lãi, thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật, thì nhö phaân tích trên là có căn cứ chấp nhận phải trả ngay số tiền trên do thời hạn vay nợ đã lâu.
Riêng người tên Vũ, xét thấy không cần triệu tập với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì ông Vũ, bà L, bà H thỏa thuận chuyển số tiền bà L vay ông Vũ sang bà L vay bà H số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, theo giấy ghi nợ ngày 30/9/2010 nên ông Vũ không liên quan trong vụ án và điều này là phù hợp pháp luật.
Xét ý kiến bà L thừa nhận nợ bà H số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Bà L, ông H đồng ý chịu trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Bằng cách mỗi tháng trả 10.000.000 (Mười triệu) đồng, lần lượt cho đến khi dứt nợ, thì lời trình bày bà L đã thừa nhận có nợ bà H số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Tuy nhiên, các bên không thỏa thuận phương thức trả nợ. Xét thấy bị đơn không thiện chí trong việc trả nợ và phía nguyên đơn không đồng ý cách trả nợ trên. Do đó cần buộc bà L và ông H có trách nhiệm liên đới trả số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng, thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Riêng đối với việc trả lãi bà L không đưa ra chứng cứ gì chứng minh và phía nguyên đơn không thừa nhận bà L đã trả lãi nên không có căn cứ chấp nhận.
Xét ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngũ Trung H trình bày xác định lời trình bày của bà Ngũ Qúy Linh là mẹ ông H là đúng. Ông H đồng ý có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng, thì như phân tích trên lời trình bày này không phù hợp pháp luật nên không được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bà H là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí. Baø Linh, ông H phải liên đới chịu án phí trên số tiền thanh toán cho bà H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 184, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 467, Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 có hiệu lực ngày vào ngày 01/01/2017.
Tuyên xử: vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang A.
1. Chấp nhận yêu cầu cuûa bà Hà Thúy H.
2. Buộc bà Ngũ Qúy Linh và ông Ngũ Trung H có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Hà Thúy H số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Ngũ Qúy Linh và ông Ngũ Trung H phải liên đới chịu số tiền 24.000.000 (Hai mươi bốn triệu) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bà Hà Thúy H thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn án aùn phí.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành như án đã tuyên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án; Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q8; - Chi cục THADS Q8; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phúc |