vanban.org

Bản án 26/2021/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Thị P đối với bị đơn là ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H.

Buộc ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H bồi thường cho bà Lê Thị P số tiền là 1.100.000đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng). Kể từ ngày bà Lê Thị Phượng có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H không bồi thường số tiền 1.100.000đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng) nêu trên thì hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Phượng kiện Hường"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Thị P đối với bị đơn là ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
Tỉnh Hậu Giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/DS-ST
Ngày: 31-5-2021
V/v tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Thanh

2. Bà Lê Thanh Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2021/TLST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2021 về việc tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2021/QĐXX-ST ngày 14 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị P

Địa chỉ: Ấp 1A, xã TH, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Cẩm H và ông Lê Danh C

Địa chỉ: Ấp NTA, thị trấn MN, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Lê Thị P trình bày như sau: Giữa bà và bà Lê Thị Cẩm H có chơi hụi với nhau, bà có nợ bà H một số tiền chưa trả kịp. Tuy nhiên, ông C là chồng bà H nhiều lần chặn đường bà kiếm chuyện. Vào ngày 18/5/2020, bà H và ông C chặn đường bà tại trường tiểu học thị trấn MNA để đòi nợ. Hai bên cự cãi thì ông C và hai thanh niên lạ mặt đánh vào mặt và cổ của bà gây thương tích. Tỷ lệ thương tích được xác định là 1%.

Trong đơn khởi kiện ngày 29/3/2021, bà P đòi bồi thường tiền thuốc, chi phí khám điều trị, tiền công lao động bị mất và tiền công cho người chăm sóc là 18.633.858đồng. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ kỹ lại và coi lại các khoản chi phí hợp lý, bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông C, bà H bồi thường tổng cộng 5.000.000đồng, bao gồm tiền chụp MRI, tiền thuốc và 07 ngày công lao động là thời gian bà nghỉ ngơi sau khi bị đánh, mỗi ngày 200.000đồng.

Quá trình tố tụng tại tòa án, bị đơn là ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H trình bày thống nhất như sau: Bà Lê Thị P có nợ tiền hụi vợ chồng của ông, bà là 10.000.000đồng. Ông, bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà P không trả. Ngày 18/5/2020, bà H kêu bà P qua nhà nói chuyện nhưng bà P không đồng ý, hai bên cự cãi nên bà H điện thoại kêu ông C về. Khi ông C về thì hai bên có lời qua tiếng lại, ông C có tát bà P một cái vào mặt, bà P dùng tay đỡ ra nên vết thương không có gì đáng kể. Vì vậy, bà H và ông C chỉ đồng ý bồi thường cho bà P tiền khám, tiền thuốc uống điều trị vết thương là 500.000đồng. Không đồng ý bồi thường 5.000.000đồng như bà Phượng yêu cầu.

Theo Theo hồ sơ ban đầu do Công an thị trấn MN và Công an huyện CTA lập và thu thập thì vào ngày 18/5/2020, tại cổng Trường tiểu học thị trấn MNA, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang giữa bà Lê Thị P và Lê Thị Cẩm H và ông Lê Danh C có xảy ra cự cãi, ông C có dùng tay đánh vào mặt bà P gây thương tích.

Theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 151/TgT ngày 14/10/2020 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Hậu Giang kết luận: Vết thương phần mềm môi dưới; Các chấn thương gò má phải, cổ, môi trên đã phục hồi không để lại dấu vết. Tỷ lệ thương tích gây tổn hại sức khỏe hiện tại là 1%.

Sau khi bị đánh, cùng ngày 18/5/2020 bà P đến Trung tâm Y tế huyện CTA khám với chi phí khám là 30.500đồng. Sau khi khám, bà P mua thuốc theo chỉ định của bác sĩ uống trong 03 ngày, với số tiền thuốc là 155.358đồng (BL 142 và BL 13). Hồ sơ không thể hiện yêu cầu tái khám của bác sĩ.

Đến ngày 20/5/2020, bà P đến Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long để khám vết thương. Tại đây, bà P đã nộp phí khám số tiền 95.000đồng thể hiện tại Phiếu đăng ký khám ngày 20/5/2020 (BL 138) và thực hiện “Chụp cộng hưởng từ cột cổ (không có thuốc cản quang)” với số tiền chi phí chụp là 3.458.000đồng. (BL 137)

Kết quả chụp cộng hưởng kết luận: Thoái hóa nhẹ thân sống – đĩa đệm cột sống cổ. (BL 135)

Sau khi bà P chụp cộng hưởng thì không lấy thuốc vì đã có thuốc, nội dung này thể hiện tại Toa thuốc lập ngày 20/5/2020 của Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long. (BL 140)

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Lê Thị P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trong đơn khởi kiện với số tiền 18.633.858đồng, trong đó tiền điều trị, khám vết thương là 3.833.858đồng, tiền ngày công lao động của bà Phượng bị mất là 6.000.000đồng, tiền ngày công lao động của người chăm sóc bà là 8.800.000đồng và yêu cầu bổ sung tiền bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần là 20.000.000đồng. Bị đơn là ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H vắng mặt tại phiên tòa, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Giữa nguyên đơn Lê Thị P và bị đơn Lê Danh C, Lê Thị Cẩm H do có mâu thuẫn từ trước nên vào ngày 18/5/2020 hai bên xảy ra cự cãi, ông C có đánh bà P gây thương tích tỷ lệ thương tật 1%. Bà P đi khám và điều trị với số tiền là 375.858đồng, bị đơn tự nguyện bồi thường 500.000đồng tiền khám và tiền thuốc nên ghi nhận.

Bà Lê Thị P uống thuốc ba ngày nên đề nghị chấp nhận cho bà P ba ngày công lao động mỗi ngày 200.000đồng, thành tiền là 600.000đồng.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn bồi thường cho bà P chi phí đi lại khám vết thương là 2.000.000đồng.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 584, 589, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Thị P đối với ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H. Buộc ông C và bà Hường phải bồi thường thiệt hại cho bà P số tiền là 3.100.000đồng.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là bà Lê Thị P cho rằng bà bị ông Lê Danh C đánh gây thương tích, quá trình giải quyết tại Công an thị trấn MN hai bên không thương lượng được mức bồi thường thiệt hại, từ đó phát sinh tranh chấp. Xét đây là vụ án tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A theo quy định tại khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Lê Thị P yêu cầu bị đơn Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với số tiền là 18.633.858đồng.

Theo hồ sơ thể hiện, vào ngày 18/5/2020, tại cổng Trường tiểu học thị trấn MNA, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang giữa bà Lê Thị P và Lê Thị Cẩm H và ông Lê Danh C có xảy ra cự cãi, ông D có dùng tay đánh vào mặt bà P gây thương tích.

Theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 151/TgT ngày 14/10/2020 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Hậu Giang kết luận: Vết thương phần mềm môi dưới; Các chấn thương gò má phải, cổ, môi trên đã phục hồi không để lại dấu vết. Tỷ lệ thương tích gây tổn hại sức khỏe hiện tại là 1%.

Sau khi bị đánh, bà P đi khám ngoại chấn thương với chi phí khám là 30.500đồng. Sau khi khám, bà P mua thuốc theo chỉ định của bác sĩ uống trong 03 ngày, với số tiền thuốc là 155.358đồng (BL 142 và BL 13). Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu bồi thường tiền chi phí khám ban đầu 30.500đồng và tiền thuốc trong ba ngày là 155.385đồng.

Đến ngày 20/5/2020, bà P đến Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long để khám vết thương. Tại đây, bà P đã nộp phí khám bệnh số tiền 95.000đồng thể hiện tại Phiếu đăng ký khám ngày 20/5/2020 (BL 138) và thực hiện “Chụp cộng hưởng từ cột cổ (không có thuốc cản quang)” với số tiền chi phí chụp là 3.458.000đồng (BL 137). Tuy nhiên, trên phiếu chỉ định của bác sĩ, tại cột ghi chú có dòng chữ “Theo yêu cầu” và việc bà Phượng đi khám lại tại Bệnh viên đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long là tự đi khám chứ không phải tái khám theo chỉ định bác sĩ. Đồng thời, kết quả chụp cộng hưởng cũng không thể hiện thương tích liên quan việc bị đánh. Sau khi khám xong, bà P không lấy thuốc. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí khám bệnh và chụp cộng hưởng tại Bệnh viên đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long.

Đối với yêu cầu bồi thường tiền ngày công lao động bị mất: Bà P yêu cầu bồi thường cho bà 6.000.000đồng, chồng bà là người chăm sóc bà 8.800.000đồng. Xét thấy, sau khi bị đánh, bà P được bác sĩ cho uống thuốc 03 ngày, bao gồm thuốc giảm đau, kháng sinh, không có chỉ định nằm viện, không nằm viện nên chỉ có cơ sở chấp thuận bà P mất 03 ngày công lao động trong thời gian uống thuốc, bà P là lao động tự do có mức thu nhập trung bình là 200.000đồng/ngày nhân 3 ngày là 600.000đồng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định, ông Lê Danh C đã thực hiện hành vi trái pháp luật là đánh bà P gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 1%, bà P đã đi khám và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ trong 03 ngày nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà P về chi phí khám, điều trị vết thương với số tiền là 185.858đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn bồi thường tiền khám, tiền thuốc 500.000đồng. Chấp nhận yêu cầu bồi thường số tiền do mất ngày công lao động trong 03 ngày là 600.000đồng, tổng cộng là 1.100.000đồng.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần: Tại phiên tòa, bà P yêu cầu bồi thường thiệt hại tinh thần 20.000.000đồng, tuy nhiên trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng bà P không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần mặc dù đã được giải thích nên việc yêu cầu tại phiên tòa là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng không xem xét giải quyết trong vụ án này, bà P có quyền yêu cầu khởi kiện thành vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm d Điều 12 và khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì nguyên đơn Lê Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

Bị đơn Lê Thị Cẩm H và Lê Danh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000đồng.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A: Bà Phượng yêu cầu tiền chi phí khám và điều trị là 3.833.858đồng, tiền công lao động của bà là 6.000.000đồng, tiền công lao động của chồng bà là 8.800.000đồng, đại diện Viện kiểm sát ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn bồi thường cho nguyên đơn tiền thuốc và điều trị số tiền 500.000đồng và 03 ngày công lao động bằng 600.000đồng là có cơ sở, tuy nhiên chấp nhận bồi thường chi phí đi lại cho nguyên đơn 2.000.000đồng là chưa phù hợp vì bà P không yêu cầu bồi thường về chi phí đi lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Áp dụng các Điều 584, 590 của Bộ luật dân sự 2015; điểm d Điều 12, khona3 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Thị P đối với bị đơn là ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H.

Buộc ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H bồi thường cho bà Lê Thị P số tiền là 1.100.000đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bà Lê Thị Phượng có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H không bồi thường số tiền 1.100.000đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng) nêu trên thì hàng tháng ông C, bà H còn phải trả cho bà Lê Thị P số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Lê Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Danh C và bà Lê Thị Cẩm H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Nguyên đơn là bà Lê Thị Phượng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là ông Lê Danh Công và bà Lê Thị Cẩm H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ