- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2020/HSST ngày 27/04/2020 đối với bị cáo Nguyễn Đình H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:26 /2020/HSST Ngày: 27/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Thuý
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Danh Tuyên
- Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Vương Thanh Minh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên toà: Bà Doãn Thị Ánh Tuyết - kiểm sát viên.
Ngày 27/4/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2020/TLST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXXST – HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 09 tháng 4 năm 1989 tại huyện N, Nghệ An. Nơi cư trú: xóm 3, xã NH (Cũ), nay là xóm HT, xã KH, huyện N, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ. Họ và tên cha: Nguyễn Đình H, sinh năm 1965. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Vợ, con: Chưa có. Gia đình có 02 người, H là con đầu trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 27/7/2011, Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An bắt, lập Danh chỉ bản số 485 về việc đưa đối tượng vào Trại giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 2794 ngày 21/7/2011 của UBND thành phố V, Nghệ An.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2016/HSST ngày 28/4/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt ngày 07/7/2016.
- Ngày 10/8/2016 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Nghệ An bắt, lập Danh chỉ bản số 90, sau đó khởi tố về tội "Trộm cắp tài sản", đến ngày 20/01/2017 được ra quyết định đình chỉ điều tra bị can.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/02/2020 đến nay, hiện ở Trại Tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
Người bị hại:
- Chị Trần Thị L, sinh năm 1969.
Trú tại: xóm T, xã NQ, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972.
Trú tại: xóm 11, xã KH, huyện N, tỉnh Nghệ An.
(Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đình H:
- Ông Nguyễn Đình H và bà Nguyễn Thị L
Đều trú tại: Xóm H, xã KH, huyện N, tỉnh Nghệ An.
(Ông H vắng mặt, bà L Có mặt)
Người bào chữa:
- Ông Dương Hữu D- Luật sư - Văn phòng luật sư D Sự và Cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 12/10/2019, Nguyễn Đình H từ nhà mình đi bộ đến xóm T, xã NQ, huyện N, tỉnh Nghệ An thì phát hiện nhà chị Trần Thị L đang sáng đèn nên H trèo bờ rào đi vào trong sân, thấy chìa khóa đang cắm ở cửa chính, H mở cửa đi vào bên trong, vào đến phòng ngủ, H thấy chị Trần Thị L cùng con gái đang ngủ say, có 01 chiếc túi màu đen để trên bàn gần giường ngủ. H lấy trộm chiếc túi mang ra ngoài sân lục tìm bên trong thì thấy một tập tiền lẻ có tổng số tiền là 3.099.000 đồng. H lấy tiền cất vào người và quay lại phòng ngủ nhà chị L tiếp tục tìm kiếm thì thấy trên đầu giường có 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu đen nên lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần và đi về nhà. Đến ngày 14/10/2019, Nguyễn Đình H đã lên Công an huyện N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp toàn bộ tài sản đã lấy trộm được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 82/KL.ĐG ngày 04/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND huyện N kết luận: 01 (Một) chiếc điện thoại di động Nokia 105, màu đen có giá trị là 100.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Nguyễn Đình H có biểu hiện tâm thần bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi thuộc mã F71.1 (Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 407/KLGD ngày 09/12/2016 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương) nên Cơ quan điều tra đã bàn giao H cho gia đình quản lý để thực hiện thủ tục khởi tố và giám định lại pháp y tâm thần.
Trong thời gian đó, ngày 13/11/2019, Nguyễn Đình H lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 13/11/2019, H từ nhà mình đi bộ đến xóm 11, xã NH, huyện N, tỉnh Nghệ An. Khi đi qua nhà chị Nguyễn Thị L thấy nhà đang sửa chữa, không có hàng rào bảo vệ nên đã đi vào phòng ngủ lấy trộm số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng). Sáng ngày 13/11/2019, Nguyễn Đình H lên Công an huyện N đầu thú và giao nộp lại số tiền đã trộm được của chị Nguyễn Thị L.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đình H có các hành vi cắn móng tay, ngoáy mũi, đập ruồi, muỗi và bốc phân của mình để ăn, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện N đã tiến hành thu thập các tài liệu từ gia đình, người thân, hàng xóm và ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Nguyễn Đình H.
Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần số 50/KLGĐ ngày 13/3/2020 của Phân viện Pháp y tâm thần Bắc Miền Trung kết luận: "Trước, trong, sau thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 13/10/2019) và tại thời điểm giám định, bị can Nguyễn Đình H bị mắc bệnh tâm thần, chuẩn đoán theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) có mã bệnh F71.1 (Chậm phát triển tâm thần vừa có tật chứng về hành vi tác phong). Tại các thời điểm trên, bị can Nguyễn Đình H bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi" .
Tại bản cáo trạng số 41/VKS-HS ngày 09/04/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Nguyễn Đình H về tội "Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H mức án từ 6 đến 9 tháng tù
Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị L và chị Nguyễn Thị L sau khi mất trộm tài sản đã được Cơ quan điều tra thu hồi và trả lại đầy đủ, nay không có yêu cầu gì thêm.
Về Vật chứng: 01 (Một) chiếc điện thoại Nokia 105, màu đen và số tiền 3.099.000 đồng, 1.500.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Trần Thị L, Nguyễn Thị L.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo không khai nhận rõ ràng toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.
Xét lời khai của bị cáo được công bố tại phiên tòa, lời khai tại cơ quan điều tra,lời khai của bị hại; lời khai của Người đại diện hợp pháp của bị cáo, xác nhận kết quả làm việc của luật sư, người báo chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 12/10/2019, Nguyễn Đình H đã đột nhập vào nhà chị Trần Thị L ở xóm T, xã NQ, huyện N, tỉnh Nghệ An trộm cắp số tiền 3.099.000 đồng (Ba triệu, không trăm chín mươi chín nghìn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu đen trị giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), tổng trị giá tài sản Nguyễn Đình H chiếm đoạt được là 3.199.000 đồng (Ba triệu, một trăm chín chín nghìn đồng). Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, Nguyễn Đình H đã ra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp toàn bộ tài sản đã lấy trộm được để trả lại cho người bị hại. Trước, trong, sau thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Đình Hmắc bệnh tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản”quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhưng hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an đên địa bàn do đó cần xét xử nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; tự nguyện trả lại tài sản khắc phục hậu quả cho người bị hại; bị cáo gây thiệt hại không lớn; bản thân bị cáo lại là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, q, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị L và chị Nguyễn Thị L sau khi mất trộm tài sản đã được Cơ quan điều tra thu hồi và trả lại đầy đủ, nay không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng cho chủ sở hữu, các quyết định này đã đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, q, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 BLHS năm 2015;
- Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình H 8 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 11/02/2020).
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Công an h. N; - VKSND h. N; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Bị cáo, Bị hại; - Chi cục T.H.A DS h.N; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Vũ Đức Thúy |