vanban.org

Bản án 26/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 27/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồng QT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồng QT 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2020. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Võ Văn N về việc cho bị cáo Hồng QT số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án T - trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồng QT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2020/HS-ST
Ngày 27/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy;

2. Bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2020/HSST ngày 13/4/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-HS ngày 12/5/2020 đối với bị cáo:

Hồng QT, sinh ngày 09/01/1998; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Hồng TC, bà Nguyễn Thị C; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: 01 tiền sự; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/2/2020; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Võ Văn N, sinh năm 1993; nơi cư trú: Khu dân cư B, thôn C, xã Đ Tân, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 06/02/2020, Hồng QT đi bộ trên đường về nhà ở đường N. Khi đi ngang qua dãy phòng trọ ở hẻm D đường N, thành phố Q, thấy anh Võ Văn N đang nằm ngủ trong phòng nhưng không đóng khóa cửa, T lén lút vào phòng lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Jacquer Lemans và 01 ví da màu đen, bên trong ví có 600.000 đồng và một số giấy tờ cá nhân mang tên Võ Văn N. Sau khi trộm được số tài sản trên, điện thoại di động và đồng hồ đeo tay T giữ lại sử dụng, số tiền 600.000 đồng T tiêu xài cá nhân hết 580.000 đồng, một số giấy tờ cá nhân tên Võ Văn N thì T giữ lại, ví da T vứt vào thùng rác gần nơi đã trộm cắp.

* Tang vật thu giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng;

- 01 đồng hồ đeo tay hiệu Jacquer Lemans có dây đeo bằng da màu nâu;

- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 20.000 đồng, là số tiền sau khi trộm cắp đã tiêu xài còn lại;

- 01chứng minh nhân dân mang tên Võ Văn N;

- 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Võ Văn N.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTSTTTHS ngày 12/02/2020 và số 13/ KL-HĐĐGTSTTTHS ngày 16/3/2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q, kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng đã qua sử dụng trị giá 10.000.000 đồng;

- 01 đồng hồ đeo tay hiệu Jacquer Lemans đã qua sử dụng trị giá 1.000.000 đồng;

- 01 ví da màu đen đã qua sử dụng trị giá 10.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo Hồng QT chiếm đoạt được của anh Võ Văn N là 11.610.000đ (mười một triệu sáu trăm mười nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 22/QĐ-VKS, ngày 08/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Hồng QT về tội về tội“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 32, 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 09 đến 12 tháng tù; về dân sự: bị hại không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét; về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tạm giữ số tiền 20.000 đồng để bảo đảm thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồng QT khai nhận toàn bộ hành vi lén lút vào phòng trọ của anh Võ Văn N trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 11.610.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo đúng như mô tả trong bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi ra Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, năm 2018 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trất tự trị an ở địa phương.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án với thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về dân sự: Anh Võ Văn N tự nguyện cho bị cáo số tiền 600.000 đồng, không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử ghi nhận; không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc ví da 10.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Jacquer Lemans có dây đeo bằng da màu nâu; 01chứng minh nhân dân mang tên Võ Văn N; 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Võ Văn N do bị cáo T đã trộm cắp của anh Võ Văn N, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Võ Văn N là đúng quy định của pháp luật.

- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 20.000 đồng, là số tiền còn lại do bị cáo T trộm cắp và đã tiêu xài; anh Võ Văn N cho bị cáo T, không yêu cầu nhận lại số tiền trên, cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Anh Võ Văn N không yêu cầu bị cáo T bồi thường giá trị chiếc ví da màu đen nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Hồng QT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Hồng QT 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2020.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Võ Văn N về việc cho bị cáo Hồng QT số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).

4. Buộc bị cáo Hồng QT phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tạm giữ số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) của bị cáo T (theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 03 ngày 20/02/2020 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc Nhà nước Quảng Ngãi) để bảo đảm thi hành án.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ