- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Ngô Tiểu L bị xét xử tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Tiểu L (Tên gọi khác: Tý) phạm tội “ Cố ý gây thương tích ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 26/2020/HS-ST Ngày 20 tháng 5 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương B.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Nguyệt H và bà Khưu Liên D
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Mai Chí Nguyện - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2020/HSST-QĐ ngày 06/5/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Tiểu L (Tên gọi khác: Tý), sinh năm 1990, nơi sinh: Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số 201 khóm 3, phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Hoa. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Ngô Huy, sinh năm 1967 (Đã chết) và bà Huỳnh Thanh Thúy, sinh năm 1965. Anh, chị, em ruột: 04 người (Kể cả bị can), lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1992. Vợ: Nguyễn Thị Kim Liên, sinh năm 1990; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền sự: Không.
- Tiền án: 02 lần
+ Lần 1: Ngày 15/3/2012, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tỉnh Cà Mau, xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS với mức hình phạt là 02 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/8/2013, đã được xóa án tích.
+ Lần 2: Ngày 09/9/2014, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu, xét xử về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS với mức hình phạt 09 tháng tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/02/2015, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị khởi tố ngày 08/6/2019 và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bỏ trốn bị truy nã ngày 29/8/2019, ngày 19/01/2020 đầu thú, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2020 đến ngày 21/3/2020, tại ngoại đến nay. (Có mặt).
* Bị hại: anh Trần Thái V
Nơi cư trú: Khóm 5, Phường 7, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và điễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 30/3/2019, trong lúc uống rượu tại nhà của anh V, thì giữa bị cáo L và anh V xảy ra cự cãi về việc bị cáo L đòi anh V trả tiền công đã làm thuê, anh V trả tiền cho bị cáo L xong và nói L không cần làm cho anh V nữa. Do muốn vào nhà cha mẹ vợ của anh V phải đi ngang qua nhà bị cáo L, nên khi về nhà thì bị cáo L gọi điện thoại nói không cho anh V đến nhà của bị cáo L. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, anh V điều khiển xe mô tô đến nhà của bị cáo L tại Khóm 3, Phường 3, thành phố Bạc Liêu, thì giữa anh V và bị cáo L tiếp tục xảy ra cự cãi, bị cáo L vào nhà lấy 01 con dao loại dao bào có hai lưỡi dài khoảng 20cm lưỡi dao bằng kim loại có dòng chữ Is LINSHENG đâm trúng vào cằm trái và ngực phải của anh V.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 97/TgT ngày 05/6/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bạc Liêu, kết luận thương tích của anh Trần Thái V như sau: Một sẹo lồi ở cằm trái, ảnh hưởng thẩm mỹ, tỷ lệ 11%, vật gây thương tích do vật sắc; hai sẹo ở khoang liên sườn III-IV trên đường trung đòn phải, tỷ lệ 02%, vật gây thương tích do vật sắc. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 13%.
Cáo trạng số 36/CT-VKSTPBL ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Ngô Tiểu L (Tên gọi khác: Tý) về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà có quan điểm không thay đổi so với bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú khai báo hành vi phạm tội, bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Ngô Tiểu L (Tên gọi khác: Tý) phạm tội “ Cố ý gây thương tích ”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Tiểu L mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao loại dao bào có hai lưỡi dài khoảng 20cm lưỡi dao bằng kim loại có dòng chữ Is LINSHENG.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh V yêu cầu bị cáo L bồi thường số tiền 1.000.000 đồng và không yêu cầu gì khác, L đã bồi thường xong, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Bị cáo L thừa nhận hành vi của bị cáo như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại anh Trần Thái V trong quá trình điều tra đã xác định bị cáo L gây thương tích cho anh, anh đã nhận bồi thường 1.000.000 đồng từ bị cáo L, nên không yêu cầu bồi thường gì thêm, xin không truy cứu trách nhiệm hình sự bị cáo L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo Ngô Tiểu L đều thừa nhận: Khoảng 23 giờ ngày 30/3/2019 tại Khóm 3, Phường 3, thành phố Bạc Liêu, bị cáo L do có mâu thuẫn cự cải với anh V trong việc thanh toán tiền công làm thuê cho anh V, nên bị cáo L đã có hành vi dùng dao đâm trúng vào cằm trái và ngực phải của anh V gây thương tích. Hành vi của bị cáo Ngô Tiểu L đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người có liên quan, Biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định chỉ vì mâu thuẫn trong việc anh V nói “Đang nhậu rồi có gì ngày mai trả”, mặc dù sau đó anh V cũng đã trả tiền cho bị cáo L ngay tối hôm đó, nhưng bị cáo L vẫn chưa thỏa mãn khi nghe anh V nói “Mày nhắm làm được thì làm, không được thì mày nghỉ”. Như vậy, xuất phát từ việc thanh toán tiền công tại buổi tiệc nhà anh V, khi về nhà bị cáo L đã điện thoại không cho anh V đến nhà bị cáo trong khi bị cáo sống chung nhà với cha mẹ vợ anh V và khi anh V đến nhà bị cáo thì bị cáo đã sử dụng dao là hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho anh V với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo kết luận giám định là 13%. Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ngô Tiểu L nêu trên đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Ngô Tiểu L là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, hành vi phạm tội: Bị cáo Ngô Tiểu L là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi và nhận thức của bản thân; hơn nữa nhân thân bị cáo đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội trộm cắp tài sản, mặc dù đã được xóa án tích, nhưng bị cáo L đã không biết sửa đổi bản thân để làm công dân có ích cho xã hội, chỉ vì bị cáo xem thường đến tính mạng sức khỏe của người khác mà bị cáo cố ý dùng dao để gây thương tích cho anh V, bị cáo biết rằng dao là hung khí có thể gây ra nguy hiểm đến sức khỏe, mạng sống của người khác, nhưng bị cáo đã cố ý sử dụng dao để giải quyết mâu thuẫn là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn, cơ quan điều tra phải ban hành lệnh truy nã, đến ngày 19/01/2020 bị cáo mới ra đầu thú, cho thấy việc chấp hành pháp luật của bị cáo chưa cao, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Do đó cần có mức án tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả cho anh V, anh V cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi xảy ra sự việc bị cáo bỏ trốn nhưng sau đó đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét yêu cầu của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị hại có đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L. Như đã phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu này của bị cáo L và bị hại là anh V; hơn nữa, bị cáo sau khi phạm tội bỏ trốn, làm khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, nên xem xét áp dụng mức hình phạt tù dưới mức khung hình phạt mà điều luật quy định cũng đủ thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Nhà nước đối với bị cáo, như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Về vật chứng trong vụ án: Bị cáo L và bị hại cũng xác định bị cáo L đã sử dụng 01 con dao loại dao bào có hai lưỡi dài khoảng 20cm lưỡi dao bằng kim loại có dòng chữ Is LINSHENG gây thương tích cho anh V đã được bà Nguyễn Thị Anh Đào giao nộp cùng ngày 30/3/2019. Xét thấy, cây dao này là vật chứng của vụ án, nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Sau sự việc, bị cáo L bồi thường chi phí điều trị thương tích theo yêu cầu của anh V là 1.000.000 đồng. Tại phiên tòa, anh V không có yêu cầu bồi thường gì thêm, Hội đồng xét xử ghi nhận, không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo Ngô Tiểu L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Tiểu L (Tên gọi khác: Tý) phạm tội “ Cố ý gây thương tích ”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Tiểu L (Tên gọi khác: Tý): 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
2. Về vật chứng trong vụ án:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao loại dao bào có hai lưỡi dài khoảng 20cm lưỡi dao bằng kim loại có dòng chữ Is LINSHENG.
(Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2020).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Ngô Tiểu L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND thành phố Bạc Liêu; - CQ Điều tra thành phố Bạc Liêu; - Chi Cục THA.DS thành phố Bạc Liêu; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu. | Võ Phương B |