vanban.org

Bản án 26/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu H và Nguyễn Phi H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản"; bị cáo Trần Phƣớc V phạm tội "Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H 09 (chín) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam ngày 24/6/2018. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H1 03 (ba) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam 30/8/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — ""Trộm cắp tài sản", "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu H và Nguyễn Phi H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản"; bị cáo Trần Phƣớc V phạm tội "Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có".
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2020/HS-ST
Ngày: 05-3-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Xuân Phi

2. Ông Trần Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thƣ ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Lê Nguyên Lƣơng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 164/2019/QĐXXST–HS ngày 31/01/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2020/QĐST-HS ngày 17/02/2020 đối với các bị cáo:

1/ NGUYỄN HỮU H, tên gọi khác: Cu Đen; Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1990 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cƣ trú: Tổ 15 phƣờng C, quận K2, TP. Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L2 (sinh năm: 1971) và bà Thái Thị Thu T7 (sinh năm: 1970), gia đình có ba anh em, bị cáo là con đầu.

Tiền án: Chƣa.

Tiền sự: Ngày 03/04/2017 bị Tòa án quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng.

Nhân thân: Ngày 04/11/2011 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/6/2019, có mặt tại phiên tòa.

2/ NGUYỄN PHI H1, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 07 năm 1989 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cƣ trú: thôn A1, xã Q3, huyện Đ2, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn T8 (sinh năm 1964) và bà Đinh Thị T9 (sinh năm 1969), gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án:

- Ngày 15/03/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù về tội "Cƣớp giật tài sản". Chấp hành xong ngày 02/08/2012. Chƣa đƣợc xóa án tích.

- Ngày 26/02/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 05 năm về tội "Cƣớp giật tài sản". Chấp hành xong ngày 03/07/2018. Chƣa đƣợc xóa án tích.

Tiền sự: chƣa

Nhân Thân: Ngày 30/7/2019 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/8/2019, có mặt tại phiên tòa.

3/ TRẦN PHƢỚC V, tên gọi khác: Bi; Sinh ngày 27 tháng 3 năm 1980 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 27 phƣờng B2, quận C1, TP. Đà Nẵng; Nơi cƣ trú: K325/H54/18 đƣờng V5, phƣờng V6, quận K2, TP. Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Phƣớc S1 (sinh năm: 1957) và bà Trần Thị I (sinh năm: 1964), gia đình có bốn anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Phan Thị P (sinh năm 1982), đã ly hôn.

Tiền án, tiền sự: Chƣa.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/6/2019, đến ngày 17/9/2019 bị cáo đƣợc thay thế biện pháp Tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh theo Quyết định số 05/QĐ-VKS ngày 16/9/2019. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa của bị cáo Trần Phước V: Luật sƣ Lê Thị E – Luật sƣ thuộc Đoàn luật sƣ thành phố Đà Nẵng.

- Bị hại:

1/ Lê Minh V1, sinh năm: 1992; Nơi ĐKHKTT: Tổ 02 phƣờng Q4, thành phố K3, tỉnh Kon Tum; Tạm trú: K02/103 đƣờng Đ3, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2/ Hồ H2, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Số 21 đƣờng B3 5, tổ 27 phƣờng V6, quận K2, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

3/ Bùi Thị H3, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Số 50 đƣờng C2 4, tổ 95 phƣờng A2, quận S2, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

4/ Lê Anh K, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Số 01 đƣờng A3 24, phƣờng M1, quận N2, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

5/ Đoàn Văn T, sinh năm: 1993; Nơi ĐKHKTT: Tổ 09 phƣờng O, quận C3, thành phố Đà Nẵng; Tạm trú: Số 26 đƣờng A3 28, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

6/ Trần Minh Q, sinh năm: 1998; Nơi ĐKHKTT: thôn S3, xã Q5, huyện N3, tỉnh Quảng Nam; Tạm trú: Số 138 đƣờng N4, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

7/ Hoàng Trần Công D, sinh năm: 1999; Nơi ĐKHKTT: Số 291 đƣờng L3, tổ 04 phƣờng N5, thành phố K3, tỉnh Kon Tum; Tạm trú: Số 262 đƣờng P1, phƣờng B4, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

8/ Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 1999; Địa chỉ: khu 8 thị trấn A4, huyện Đ2, tỉnh Quảng Nam; Tạm trú: Số 35 đƣờng Ô, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

9/ Nguyễn Thị M, sinh năm: 1997; Nơi ĐKHKTT: xã M2, huyện P2, tỉnh Bình Định; Tạm trú: Số K04A/07 đƣờng Ô1, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

10/ Nguyễn Thành N, sinh năm: 1989; Nơi ĐKHKTT: Tổ 40 phƣờng B4, quận C4, thành phố Đà Nẵng; Tạm trú: Số 28 đƣờng S4, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt.

11/ Lê Thị S, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Nơi ĐKHKTT: thôn E1, xã C5, huyện K4, tỉnh Đăk Lăk; Tạm trú: K82/H24/18 đƣờng L3, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

12/ Nguyễn Hải Â, sinh năm: 1989; Nơi ĐKHKTT: xã Â1, huyện I1, tỉnh Quảng Ngãi; Tạm trú: Số 38 đƣờng Ơ 10, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

13/ Lê Tất Minh T2, sinh năm: 1996; Nơi ĐKHKTT: K50/H5/16 đƣờng Ê, tổ 24 phƣờng G, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

14/ Trần Quốc D1, sinh năm: 1996; Nơi ĐKHKTT: K582/01 đƣờng D3, phƣờng Đ4, quận C4, thành phố Đà Nẵng; Tạm trú: K55/06 đƣờng D4, phƣờng U, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

15/ Nguyễn Vũ Thành Q1, sinh năm: 2000; Nơi ĐKHKTT: thôn L4, xã Đ5, huyện Đ2, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

16/ Ngô Đình H4, sinh năm: 1997; Nơi ĐKHKTT: xã N6, huyện Q6, tỉnh Quảng Bình; Tạm trú: Số 103 đƣờng N7, phƣờng M3, quận C1, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

17/ Hồ Thúc H5, sinh năm: 1996; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 05, thị trấn K5, huyện K5, tỉnh Đăk Lăk; Tạm trú: K42/03 đƣờng B5, phƣờng P3, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

18/ Nguyễn Bá Đ, sinh năm: 1994; Nơi ĐKHKTT: Xã C6, huyện L5, tỉnh Quảng Bình; Tạm trú: Số 41 đƣờng Ơ 09, phƣờng C7, quận C4, thành phố Đà Nẵng, Vắng mặt.

19/ Trần Thị Kim A, sinh năm: 1997; Nơi ĐKHKTT: Tổ 28 phƣờng Đ6, quận S2, thành phố Đà Nẵng, Vắng mặt.

20/ Nguyễn Ngọc T3, sinh năm: 1993; Nơi ĐKHKTT: thôn 6, xã X 1, huyện N3, tỉnh Quảng Nam; Tạm trú: D29 đƣờng A3 34, phƣờng M1, quận N2, thành phố Đà Nẵng, Vắng mặt.

21/ Nguyễn Thị H6, sinh năm: 1986; Nơi ĐKHKTT: thôn Ƣ, xã Đ7, huyện P4, tỉnh Đăk Lăk; Tạm trú: Số 30 đƣờng B6, phƣờng M4, quận S2, thành phố Đà Nẵng, Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Lê Xuân B, sinh năm: 1964; Nơi ĐKHKTT: Tổ 02 phƣờng Q4, thành phố K3, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

2/ Nguyễn Văn B1, sinh năm: 1974; Địa chỉ: khu 8 thị trấn A4, huyện Đ2, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

3/ Nguyễn Quốc T4, sinh năm: 1971; Nơi ĐKHKTT: xã M2, huyện P2, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

4/ Bùi Thị L, sinh năm: 1969; Nơi ĐKHKTT: xã Â1, huyện I1, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

5/ Nguyễn Văn T5, sinh năm: 1974; Nơi ĐKHKTT: thôn L4, xã Đ5, huyện Đ2, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

6/ Hoàng Quốc T6, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Số 02 đƣờng C8, phƣờng G, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

7/ Lê Trọng K1, sinh năm: 1998; Địa chỉ: K151/08 đƣờng S5, phƣờng B7, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

8/ Phan Thị Nhật H7, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Thôn M5, xã P5, huyện S6, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

9/ Đồng Anh Q2, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn M5, xã P5, huyện S6, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

10/ Trần Vinh L1; Địa chỉ: Số 57 đƣờng Đ8, phƣờng C9, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

11/ Hồ Thanh V2, sinh năm: 1979; Địa chỉ: thôn P6, xã Đ9, huyện Đ2, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

12/ Trƣơng Đ1, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Số 09/04 đƣờng R, phƣờng I2, thành phố K6, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

13/ Trƣơng Ngọc N1, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Số 16 đƣờng P7, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

14/ Lê Trần Thanh H8, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Số 81 đƣờng M6, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

15/ Lê Thị Y, sinh năm: 1963; Địa chỉ: K276/46 đƣờng P8, phƣờng U1, quận K2, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

16/ Dƣơng Thị Mỹ D2, sinh năm: 1993; Địa chỉ: K276/46 đƣờng P8, phƣờng U1, quận K2, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

17/ Trần Phƣớc Minh V4, sinh năm: 1981; Địa chỉ: K325/44 đƣờng V5, phƣờng V6, quận K2, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

18/ Lê Thị Y1, sinh năm: 1969; Địa chỉ: K168/03 đƣờng D5, phƣờng G, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

19/ Mai Anh V3, sinh năm: 1992; Địa chỉ: K168/03 đƣờng D5, phƣờng G, quận C4, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

20/ Trần Đình H9, sinh năm: 1995; Địa chỉ: K16/38 đƣờng G1, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 08/2018 đến tháng 05/2019, Nguyễn Hữu H đã thực hiện 21 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn quận Thanh Khê và các quận khác trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 15/8/2018, H đi bộ đến trƣớc dãy phòng trọ tại địa chỉ K02/123 đƣờng Đ3, phƣờng X1, quận K2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, BKS 82K9-0577 của anh Lê Minh V1 đang dựng trong đƣờng luồng dãy trọ nơi V1 thuê. Quan sát thấy không có ngƣời trông coi, H vào trong trộm cắp xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc H khai bán lại cho Trần Phƣớc V với giá 2.500.000 đồng, số tiền có đƣợc H tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 217 ngày 25/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Honda AirBlade màu đỏ - đen BKS: 82K9-0577, số khung: Y500231, số máy: 5000317 trị giá 8.500.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 05/9/2018, H đi bộ đến trƣớc nhà số 21 đƣờng Bầu Hạc 5, phƣờng V6, quận K2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Mio Classico, màu trắng, BKS 43R1-5776 của ông Hồ H2 đang dựng trƣớc nhà không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H đăng lên mạng xã hội và bán lại cho một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 2.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 246 ngày 01/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Mio màu trắng BKS: 43R1-5776, số khung: 008278, số máy: 008274 trị giá 6.300.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 12/01/2019, H đi bộ đến đƣờng O1, phƣờng A2, quận S2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu AirBlade màu đỏ - đen, BKS: 43P1-7018 của chị Bùi Thị H3 đang dựng ở lô đất trống bên cạnh khách sạn Bobin tại địa chỉ số 08 đƣờng O1, phƣờng A2, quận S2, thành phố Đà Nẵng không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H đem bán lại cho Trần Phƣớc V với giá 4.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi có đƣợc xe máy, Trần Phƣớc V đã đổi thành BKS: 43K1-025.56 để dùng làm phƣơng tiện đi lại và gửi tại siêu thị BigC – số 255 đƣờng V5, thành phố Đà Nẵng thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê phát hiện thu giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 113 ngày 24/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xác định: 01 xe máy Honda AirBlade màu đỏ - bạc - đen BKS: 43P1-7018, số khung: 250029, số máy: 0290985 trị giá 14.600.000 đồng. Hiện đã trả lại xe máy cho bị hại.

Vụ thứ tư: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 09/3/2019, H đi bộ đến quán F tại địa chỉ số 48 đƣờng P9, phƣờng M1, quận N2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, màu đỏ trắng đen, BKS 59U1-614.34 của anh Lê Anh K đang dựng phía trƣớc quán không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 4.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 179 ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Honda AirBlade FI màu đỏ - trắng - đen BKS: 59U1-614.34, số khung: 600DY-391014, số máy: F46E4316613 trị giá 22.400.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ năm: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 12/3/2019, H đi bộ đến trƣớc nhà số 26 đƣờng A3-28, phƣờng M1, quận N2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, màu xám đen, BKS 43G1-255.89 của anh Đoàn Văn T đang dựng phía trƣớc không có ngƣời trông coi, chìa khóa còn gắn trên xe nên H trộm cắp xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 5.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 176 ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Honda AirBlade, màu xám đen, BKS 43G1-255.89, số khung: 6300FZ753372, số máy: JF63E1753410 trị giá 33.100.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ sáu: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 15/3/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số 08 đƣờng D6, phƣờng C7, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu xám đen, BKS 92N1-460.07 của anh Trần Minh Q đang dựng phía trƣớc phòng trọ nơi Q thuê. Quan sát thấy không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H bán cho Trần Phƣớc V với giá 4.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi có đƣợc xe máy, Trần Phƣớc V sử dụng làm phƣơng tiện đi lại thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê phát hiện thu giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 112 ngày 24/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Exciter màu đen-xám BKS: 92N1-460.07, số khung: 0610JY622605, số máy: G3D4E648335 trị giá 35.800.000 đồng. Hiện đã trả lại xe máy cho bị hại

Vụ thứ bảy: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 17/3/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số 262 đƣờng P1, phƣờng B4, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 82B1-579.96 của anh Hoàng Trần Công D đang dựng phía trƣớc phòng trọ nơi D thuê. Quan sát thấy không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H bán cho Trần Phƣớc V với giá 6.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi có đƣợc xe máy, Trần Phƣớc V đã đổi thành BKS: 59U1-614.34 để dùng làm phƣơng tiện đi lại và cất giữ tại nhà của V – địa chỉ: K325/H54/18 đƣờng V5, thành phố Đà Nẵng thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê phát hiện thu giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 111 ngày 24/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Exciter màu đen BKS: 82B1-579.96, số khung: 0610HY596237, số máy: G3D4E621369 trị giá 35.600.000 đồng. Hiện đã trả lại xe máy cho bị hại.

Vụ thứ tám: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 18/3/2019, H đi bộ đến trƣớc tiệm áo cƣới “L6” tại địa chỉ số 35 đƣờng Ô, phƣờng G2, quận K2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, BKS 92E1-324.03 của anh Nguyễn Thanh T1 đang dựng phía trƣớc tiệm không có ngƣời trông coi, chìa khóa còn gắn trên xe nên H trộm cắp xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 2.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 184 ngày 07/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Sirius màu đen-trắng BKS: 92E1-324.03, số khung: C6K0GY326207, số máy: 6C6K326206 trị giá 13.300.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ chín: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 23/3/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số K04A/07 đƣờng Ô1, phƣờng B7, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh bạc đen, BKS 77E1-499.78 của chị Nguyễn Thị M đang dựng trong bãi để xe máy của dãy trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 3.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 210 ngày 11/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Jupiter màu xanh-bạc-đen BKS: 77E1-499.78, số khung: 1340HY051323, số máy: E3S1E087328 trị giá 25.500.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 02/4/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số 28 đƣờng S4, phƣờng C7, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đen bạc, BKS 43C1-693.48 của anh Nguyễn Thành N đang dựng phía trƣớc dãy trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 3.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 188 ngày 16/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Jupiter màu đen-bạc BKS: 43C1-693.48, số khung: B950AY069066, số máy: 5B950569064 trị giá 9.400.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười một: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07/4/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ K82/H24/18 đƣờng L3, phƣờng D7, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Attila Elizabet, màu vàng, BKS: 81T4-0021 của chị Lê Thị S đang dựng phía trong dãy phòng trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 2.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 175 ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Attila Elizabet, màu vàng, BKS: 81T4-0021, số khung: 12ED7D000141, số máy: VT5AD000141trị giá 7.500.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười hai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 17/4/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số 38 đƣờng Ơ-10, phƣờng C7, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ, BKS: 76F1-169.77 của anh Nguyễn Hải  đang dựng phía trong đƣờng luồng của dãy trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 4.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 211 ngày 11/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Exciter màu trắng-đỏ BKS: 76F1-169.77, số khung: 0610GY215952, số máy: G3D4E228855 trị giá 29.800.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười ba: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 20/4/2019, H đi bộ đến quán Internet “Z” tại địa chỉ số 103 đƣờng N8, phƣờng U, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ, BKS: 43D1-474.58 của anh Lê Tất Minh T2 là khách chơi game tại quán đang dựng phía ngoài quán internet không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho một đối tƣợng tên Hƣng (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 8.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 227 ngày 16/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Exciter, màu trắng-đỏ, BKS: 43D1-474.58, số khung: 0610FY132574, số máy: G3D4E145176 trị giá 27.800.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười bốn: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 22/4/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ K55/06 đƣờng D4, phƣờng U, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, màu đỏ trắng, BKS: 43C1-263.97 của anh Trần Quốc D1 đang dựng ở khu vực để xe của dãy trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho một đối tƣợng tên Dƣơng (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 7.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 66 ngày 10/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hải Châu xác định: 01 xe Honda AirBlade màu đỏ trắng đen, BKS: 43C1-263.97, số khung: 4602DY201021, số máy: JP46E40902162 trị giá 32.000.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười lăm: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 27/4/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số 111 đƣờng L7, phƣờng M3, quận C1, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu xanh đen, BKS 92E1-260.40 của anh Nguyễn Vũ Thành Q1 đang dựng phía trƣớc dãy phòng trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 2.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 177 ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Sirius màu xanh đen, BKS: 92E1-260.40, số khung: C6H0FY140796, số máy: 5C6H140806 trị giá 11.500.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười sáu: Khoảng 23 giờ 00 ngày 28/4/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số 19 đƣờng Nguyễn X2, phƣờng M3, quận C1, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, BKS 73G1-165.53 của anh Ngô Đình H4 đang dựng phía trƣớc dãy phòng trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho một đối tƣợng tên Hƣng (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 6.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 174 ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Exciter màu xanh-bạc, BKS: 73G1-165.53, số khung: 0610FY177872, số máy: G3D4E190779 trị giá 28.900.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười bảy: Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 08/5/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số K42/03 đƣờng B5, phƣờng P3, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu xanh đen, BKS 47E1-247.26 của anh Hồ Thúc H5 đang dựng phía trong đƣờng luồng của dãy trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 2.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi có đƣợc xe máy, H1 sử dụng xe này để chở gỗ rồi đem đến sửa chữa tại cửa hàng sửa chữa xe máy “D9” tại thôn Ă, xã N9, huyện Đ2, tỉnh Quảng Nam do anh Nguyễn Văn D9 là chủ cửa hàng thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê phát hiện thu giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 207 ngày 06/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Sirius màu đen-xanh, BKS: 47E1-247.26, số khung: C6J0GY178807, số máy: 5C6J178814 trị giá 12.600.000 đồng. Hiện đã thu hồi đƣợc tài sản và trả lại cho bị hại.

Vụ thứ mười tám: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/5/2019, H đi bộ đến dãy phòng trọ tại địa chỉ số 16 đƣờng Ơ-10, phƣờng C7, quận C4, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, màu đen, BKS 73H1-250.87 của anh Nguyễn Bá Đ đang dựng phía trƣớc dãy phòng trọ không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho một đối tƣợng tên Tài (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 4.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 189 ngày 16/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Honda AirBlade màu đen BKS: 73H1-250.87, số khung: 4611EZ739147, số máy: JF46E7539121 trị giá 32.600.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ mười chín: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 28/5/2019, H đi bộ đến quán cà phê “HD” tại địa chỉ số 66 đƣờng P9, phƣờng M1, quận N2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Jupiter, màu đen bạc, BKS 43E1-015.79 của chị Trần Thị Kim A đang dựng trên vỉa hè phía đối diện với quán cà phê không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 3.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 178 ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Yamaha Jupiter màu đen-bạc, BKS: 43E1-015.79, số khung: 091715, số máy: 091716 trị giá 11.200.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Vụ thứ hai mươi: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/5/2019, H đi bộ đến trƣớc nhà số D29 đƣờng A3-34, phƣờng M1, quận N2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, BKS 92N1-053.26 của anh Nguyễn Ngọc T3 đang dựng phía trƣớc nhà không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 2.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi có đƣợc xe máy, H1 sử dụng xe này để chở gỗ rồi đem gửi nhờ tại nhà bà Trƣơng Thị Ƣng thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê phát hiện thu giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 167 ngày 17/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng-đen, BKS: 92N1-053.26, số khung: C640BY583356, số máy: 5C64583367 trị giá 8.500.000 đồng. Hiện đã thu hồi đƣợc tài sản và trả lại cho bị hại.

Vụ thứ hai mươi mốt: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 31/5/2019, H đi bộ đến khách sạn Ez tại địa chỉ số 39 đƣờng A3-33, phƣờng M1, quận N2, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda Vision, màu xanh, BKS 92E1-282.41 của chị Nguyễn Thị H6 đang dựng tại bãi xe của khách sạn không có ngƣời trông coi nên H trộm cắp chiếc xe máy trên rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp đƣợc, H khai bán cho Nguyễn Phi H1 với giá 4.000.000 đồng, số tiền có đƣợc H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 183 ngày 07/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: 01 xe máy Honda Vision màu xanh, BKS: 92E1-282.41, số khung: 5807EY455506, số máy: JF58E0341278 trị giá 19.200.000 đồng. Tài sản chƣa thu hồi đƣợc.

Nhƣ vậy, tổng giá trị tài sản Nguyễn Hữu H chiếm đoạt là 426.100.000 đồng.

Nguyễn Phi H1 biết H là ngƣời trộm cắp xe máy. Khoảng đầu năm 2019, H1 gặp H tại thành phố Đà Nẵng và nói với H là bản thân H1 có nhu cầu mua xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius do trộm cắp đƣợc với giá thấp để sử dụng chở gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. H đồng ý và hứa hẹn với H1 nếu trộm cắp đƣợc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius sẽ bán cho H1. Trong tháng 5/2019, H đã bán cho H1 02 xe máy. Nhƣ vậy, hành vi của Nguyễn Phi H1 là đồng phạm với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Hữu H với vai trò giúp sức. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Phi H1 chiếm đoạt là 21.100.000 đồng.

Trần Phƣớc V không hứa hẹn trƣớc với H và biết rõ xe máy là tài sản do H trộm cắp đƣợc mà có nhƣng vẫn đồng ý mua với giá rẻ hơn nhiều so với thực tế. Từ tháng 01/2019 đến tháng 3/2019, V đã mua từ H 03 xe máy. Nhƣ vậy, tổng giá trị tài sản V tiêu thụ là 86.000.000đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu H còn khai nhận:

- H khai bán cho Nguyễn Phi H1 tổng cộng 12 xe máy đã trộm cắp đƣợc. Tuy nhiên, H1 chỉ thừa nhận mua từ H 02 xe máy. Quá trình điều tra không còn tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh, do đó không đủ cơ sở kết luận trách nhiệm hình sự của Nguyễn Phi H1 đối với 10 xe máy còn lại.

- H khai bán cho Trần Phƣớc V tổng cộng 04 xe máy đã trộm cắp đƣợc. Tuy nhiên, V chỉ thừa nhận mua từ H 03 xe máy. Quá trình điều tra không còn tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh, do đó không đủ cơ sở kết luận trách nhiệm hình sự của Trần Phƣớc V đối với 01 xe máy còn lại.

*Vật chứng tạm giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7, màu vàng, số imei 1: 353465103431951, số imei 2: 353466103431959. Nguyễn Hữu H sử dụng để liên lạc bán xe cho Trần Phƣớc V, Nguyễn Phi H1.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia RM1172, số imei 1: 357318087067281, số imei 2: 357318089244789. Trần Phƣớc V sử dụng để liên lạc mua xe từ Nguyễn Hữu H.

- 01 biển số xe 59U1-614.34 của xe máy nhãn hiệu Honda Airblade do anh Lê Anh K làm chủ sở hữu. Chiếc xe này bị Nguyễn Hữu H trộm cắp vào ngày 09/03/2019 tại phƣờng M1, quận N2, thành phố Đà Nẵng.

- 01 biển số xe 43C1-440.54 của xe máy nhãn hiệu Honda Airblade do anh Hoàng Quốc T6 làm chủ sở hữu, sau đó cho anh Lê Trọng K1 mƣợn và bị mất trộm vào ngày 25/11/2018 tại phƣờng M4, quận S2, thành phố Đà Nẵng.

- 01 biển số xe 43K1-025.56 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo do anh Nguyễn Tri Vƣơng làm chủ sở hữu, xe máy trên vào năm 2017 anh Vƣơng đã bán lại cho chủ khác hiện chƣa rõ lai lịch.

- 01 biển số xe 92G1-256.66 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter do chị Phan Thị Nhật H7 làm chủ sở hữu, xe máy trên chị H7 giao cho con mình là Đồng Anh Q2 sử dụng và xe máy bị mất trộm vào ngày 14/04/2019 tại phƣờng M3, quận C1, thành phố Đà Nẵng.

- 01 biển số xe 43R2-9678 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius do anh Trần Vinh L1 làm chủ sở hữu, hiện nay anh L1 đã bán nhà chuyển đi khỏi địa phƣơng.

- 01 biển số xe 92F6-8422 của xe máy nhãn hiệu Sukawa do anh Hồ Thanh V2 làm chủ, xe máy trên anh V2 vẫn đang sử dụng và bị mất trộm biển số xe vào năm 2016 tại xã ĐC, huyện Đ2, tỉnh Quảng Nam.

Hiện đang lƣu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 25/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Phi H1 về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Phƣớc V về tội "Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Phi H1 và Trần Phƣớc V và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu H và Nguyễn Phi H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Trần Phƣớc V phạm tội "Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có".

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm b, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H mức án từ 09 năm đến 10 năm tù giam.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H1 mức án từ 03 năm đến 04 năm tù giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Phƣớc V mức án từ 09 tháng đến 15 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc bị cáo H bồi thƣờng cho những ngƣời bị hại theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại những tài sản sau là có căn cứ nên không đề cập đến:

+ 01 xe máy hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, BKS: 92N1-460.47, số khung RLHJF1800AY250029; số máy: JF27E0290985 cho chủ sở hữu là chị Bùi Thị H3;

+ 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu xanh đen, 92N1 - 460.47, số khung: RLCUG061JY622605, số máy: G3D4E648335 cho chủ sở hữu là anh Trần Minh Q;

+ 01 xe máy hiệu yamaha exciter màu đen không rõ biển kiểm soát, số khung: RLCUG061HY596237; số máy: G3D4E621369 cho chủ sở hữu là anh Hoàng Trần Công D;

+ 01 xe máy Hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen không có biển kiểm soát; số khung: C640BY583356; số máy: 5C64583367 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Ngọc T3;

+ 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu xanh đen không rõ biển kiểm soát, số khung: C6J0GY178807; số máy: 5C6J178814 cho chủ sở hữu là anh Hồ Thúc H5.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen không có biển kiểm soát, số khung: 603BY570021, số máy: 5C63570073 do Trƣơng Đ1 là chủ sở hữu và giao xe cho chị Trƣơng Ngọc N1 là con gái sử dụng và quản lý. Vào ngày 10/06/2016, N1 cho Lê Trần Thanh H8 mƣợn xe để sử dụng và bị mất trộm tại phƣờng M4, quận S2, thành phố Đà Nẵng. Qua điều tra, Nguyễn Phi H1 khai nhận mua xe trên từ Nguyễn Hữu H, nhƣng H không thừa nhận. Do không còn tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để kết luận trách nhiệm hình sự của H1, H đối với xe máy này. Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe máy này cho Trƣơng Đ1.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, BKS: 43X1-2425, số khung: 533819, số máy: 50339920 thu giữ tại nhà V do Lê Thị Y là chủ sở hữu và giao xe cho chị Dƣơng Thị Mỹ D2 là con gái của bà Y mƣợn để đi lại và gửi tại tầng hầm siêu thị BigC, thành phố Đà Nẵng. Vào ngày 23/03/2019, V nhờ Trần Phƣớc Minh V4 đến tầng hầm BigC, thành phố Đà Nẵng để dắt xe giúp. Do nhầm lẫn nên V4 dắt nhầm xe máy trên. Cơ quan CSĐT Công An quận Thanh Khê đã trả lại xe máy này cho chị Lê Thị Y.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air blade, màu xám bạc đen, không có bản kiếm soát, số khung: RLHJF4613EY641825, số máy: JF46E2102106 do Lê Thị Y1 là chủ sở hữu và giao xe cho Mai Anh V3 sử dụng và quản lý. V3 mang xe cầm cố cho Trần Đình H9. Sau đó V3 và H9 mang đến cầm cố cho Trần Phƣớc V. Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe máy này cho chị Lê Thị Y1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Phi H1 và Trần Phƣớc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng nhƣ quá trình tranh luận tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Từ tháng 8/2018 đến tháng 5/2019, bị cáo Nguyễn Hữu H đã liên tục thực hiện 21 vụ trộm cắp xe máy của ngƣời khác trên địa bàn quận Thanh Khê và các quận khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt là 426.100.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Phi H1 biết rõ bị cáo H chuyên đi trộm cắp xe máy và hứa hẹn trƣớc với H sẽ mua loại xe máy hiệu Yamaha Sirius do bị cáo H trộm cắp đƣợc, do đó hành vi của bị cáo H1 là đồng phạm với hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Hữu H với vai trò giúp sức. Trong tháng 5/2019, bị cáo H1 đã mua từ bị cáo H 02 xe máy BKS 47E1-247.26 và BKS 92N1-053.26 với tổng trị giá tài sản Nguyễn Phi H1 chiếm đoạt là 21.100.000 đồng.

Bị cáo Trần Phƣớc V không hứa hẹn trƣớc với bị cáo H, biết rõ xe máy là tài sản do bị cáo H trộm cắp đƣợc mà có nhƣng vẫn đồng ý mua với giá thấp so với thực tế. Từ tháng 01/2019 đến tháng 3/2019, bị cáo V đã mua từ bị cáo H 03 xe máy có BKS lần lƣợt là: 43P1-7018, 92N1-460.07 và 82B1-579.96. Tổng giá trị tài sản V tiêu thụ là 86.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu H đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Phi H1 cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Phƣớc V cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án thì thấy:

Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ngƣời khác đƣợc pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ngƣời khác một cách trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Phi H1 và Trần Phƣớc V là những thanh niên có tuổi đời còn trẻ, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhƣng các bị cáo không chịu tu dƣỡng để làm ăn lƣơng thiện nên đã phạm tội. Các bị cáo Nguyễn Hữu H và Nguyễn Phi H1 phạm tội thuộc trƣờng hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo H1 mặc dù không thực hiện hành vi trộm cắp nhƣng có hứa hẹn trƣớc trƣớc với bị cáo H sẽ mua lại những tài sản do H trộm cắp đƣợc. Trần Phƣớc V không đồng phạm với các bị cáo Nguyễn Hữu H và Nguyễn Phi H1 mà phạm tội độc lập. Trần Phƣớc V biết xe mô tô trộm cắp nhƣng bị cáo vẫn mua với giá rẻ để sử dụng. Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Phi H1 và Trần Phƣớc V biết đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhƣng vì lợi ích trƣớc mắt, các bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phƣơng, tạo ra dƣ luận xấu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, gây sự bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của các bị cáo phải đƣợc xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo thì thấy:

Bị cáo Nguyễn Hữu H có nhân thân xấu, năm 2011 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù giam về tội "Trộm cắp tài sản"; năm 2017 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng ra quyết định đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong vụ án này bị cáo là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp 21 xe mô tô với tổng giá trị chiếm đoạt là 426.100.000 đồng. Do vậy, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với hành vi của bị cáo gây ra để bị cáo có điều kiện cải tạo, tu dƣỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Nguyễn Phi H1 cũng có nhân thân xấu, bị cáo đã có hai lần bị xử phạt về hành vi "Cƣớp giật tài sản" với mức án 04 năm tù giam vào năm 2009 và 05 năm tù giam vào năm 2014; tháng 7/2019, bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, bị cáo đồng phạm cùng với bị cáo H về tội trộm cắp tài sản, bị cáo không trực tiếp tham gia trộm cắp tài sản nhƣng đã hứa hẹn trƣớc với bị cáo H sẽ mua lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius do bị cáo H trộm cắp đƣợc tạo niềm tin cho bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp của mình. Do đó, bị cáo H1 là đồng phạm với vai trò giúp sức. Tổng giá trị tài sản bị cáo H1 chiếm đoạt là 21.100.000 đồng. Do vậy, HĐXX xét thấy cần có mức án tƣơng xứng với hành vi mà bị cáo gây ra để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dƣỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Trần Phƣớc V mặc dù không hứa hẹn trƣớc nhƣng bị cáo V biết đƣợc tài sản do trộm cắp mà có nhƣng vẫn cố ý mua lại với giá rẻ hơn so với thực tế. Hành vi phạm tội của bị cáo V không trực tiếp lấy trộm tài sản của ngƣời khác nhƣng đó là hành vi tiếp tay, dung túng cho bị cáo H thực hiện trộm cắp tài sản. Do vậy, bị cáo Trần Phƣớc V cũng cần phải có mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới có tác dụng răn đe, giáo dục.

HĐXX xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhƣ đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cở sở để các bị cáo có điều kiện cải tạo, lao động trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Nguyễn Hữu H không có việc làm lấy việc trộm cắp tài sản là xe máy để bán lấy tiền nuôi sống bản thân. Để thực hiện hành vi phạm tội của mình, bị cáo chuẩn bị trƣớc tuốc-nơ-vít để tháo phần manh xe, đầu nối dây điện để nổ máy xe thể hiện sự chuyên nghiệp, có chuẩn bị từ trƣớc. Từ tháng 8/2018 đến tháng 5/2019, bị cáo đã liên tục thực hiện 21 vụ trộm cắp xe máy trên khắp địa bàn thành phố Đà Nẵng. Do đó, bị cáo bị áp dụng các tình tiết tăng nặng "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" và "phạm tội 02 lần trở lên" theo quy định tại điểm b, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Phi H1 khai nhận tham gia giúp sức hành vi trộm cắp của bị cáo Nguyễn Hữu H 02 xe mô tô; bị cáo Trần Phƣớc V tiêu thụ tài sản do bị cáo Nguyễn Hữu H trộm cắp 03 xe mô tô, do đó, các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội 02 lần trở lên" theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi sai trái của mình, khi bị bắt các bị cáo đã tự thú khai ra những lần phạm tội trƣớc đó nên HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo. Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn do vậy HĐXX xét thấy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật đối với các bị cáo và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Phi H1 là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Riêng đối với mức hình phạt đối với bị cáo Trần Phƣớc V, xét thấy bị cáo V mục đích mua xe về để sử dụng vì hoàn cảnh gia đình đình khó khăn chứ không phải mua xe về để bán kiếm lời nên xử thấp hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị cũng thỏa đáng.

Về trách nhiệm dân sự: Mặc dù tại phiên toà hôm nay, những ngƣời bị hại vắng mặt nhƣng trong quá trình giải quyết những ngƣời bị hại đều yêu cầu bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thƣờng, cụ thể:

- Ông Lê Minh V1 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 8.500.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu đỏ đen BKS 82K9-0577.

- Ông Hồ H2 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 6.300.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Mio Classico màu trắng BKS 43R1-5776.

- Ông Lê Anh K yêu cầu bồi thƣờng số tiền 22.400.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen BKS 59U1-614.34.

- Ông Đoàn Văn T yêu cầu bồi thƣờng số tiền 33.100.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu xám đen BKS 43G1-255.89.

- Bà Nguyễn Thanh T1 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 13.300.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng BKS 92E1-324.03.

- Bà Nguyễn Thị M yêu cầu bồi thƣờng số tiền 25.500.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Jupiter màu xanh bạc đen BKS 77E1-499.78.

- Ông Nguyễn Thành N yêu cầu bồi thƣờng số tiền 9.400.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Jupiter màu đen bạc BKS 43C1-693.48.

- Bà Lê Thị S yêu cầu bồi thƣờng số tiền 7.500.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Attila Elizabeth màu vàng BKS 81T4-0021.

- Ông Nguyễn Hải  yêu cầu bồi thƣờng số tiền 29.800.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ BKS 76F1-169.77.

- Ông Lê Tất Minh T2 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 27.800.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ BKS 43D1-474.58.

- Ông Trần Quốc D1 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 32.000.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng BKS 43C1-263.97.

- Ông Nguyễn Vũ Thành Q1 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 11.500.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen BKS 92E1-260.40.

- Ông Ngô Đình H4 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 28.900.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh bạc BKS 73G1-165.53.

- Ông Nguyễn Bá Đ yêu cầu bồi thƣờng số tiền 32.600.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu đen BKS 73H1-250.87.

- Bà Trần Thị Kim A yêu cầu bồi thƣờng số tiền 11.200.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Jupiter màu đen bạc BKS 43E1-015.79.

- Bà Nguyễn Thị H6 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 19.200.000 đồng đối với 01 xe máy hiệu Honda Vision màu xanh BKS 92E1-282.41.

Xét thấy: Yêu cầu bồi thƣờng của những ngƣời bị hại đối với những tài sản không thu hồi đƣợc tƣơng ứng với kết quả điều tra và kết quả định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự. Những tài sản trên không thu hồi đƣợc nên cần buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải có trách nhiệm bồi thƣờng cho những ngƣời bị hại là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Bị hại Bùi Thị H3, Trần Minh Q, Hoàng Trần Công D, Hồ Thúc H5 và Nguyễn Ngọc T3 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với các biển kiểm soát: 59U1-614.34 của xe máy nhãn hiệu Honda Airblade; 43C1-440.54 của xe máy nhãn hiệu Honda Airblade; 43K1-025.56 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo; 92G1-256.66 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter; 43R2-9678 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius; 92F6-8422 của xe máy nhãn hiệu Sukawa không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7, màu vàng, số imei 1: 353465103431951, số imei 2: 353466103431959 Nguyễn Hữu H sử dụng để liên lạc bán xe cho Trần Phƣớc V, Nguyễn Phi H1 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia RM1172, số imei 1: 357318087067281, số imei 2: 357318089244789 Trần Phƣớc V sử dụng để liên lạc mua xe từ Nguyễn Hữu H là phƣơng tiện phạm tội của các bị cáo nhƣng còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc.

(Vật chứng hiện đang lƣu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng).

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen không có biển kiểm soát, số khung: 603BY570021, số máy: 5C63570073 do Trƣơng Đ1 là chủ sở hữu và giao xe cho chị Trƣơng Ngọc N1 là con gái sử dụng và quản lý. Vào ngày 10/06/2016, N1 cho Lê Trần Thanh H8 mƣợn xe để sử dụng và bị mất trộm tại phƣờng M4, quận S2, thành phố Đà Nẵng. Qua điều tra, Nguyễn Phi H1 khai nhận mua xe trên từ Nguyễn Hữu H, nhƣng H không thừa nhận. Do không còn tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để kết luận trách nhiệm hình sự của H1, H đối với xe máy này. Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe máy này cho Trƣơng Đ1 là có căn cứ nên HĐXX không đề cập đến.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air blade, màu đen, BKS: 43X1-2425, số khung: 533819, số máy: 50339920 thu giữ tại nhà V do Lê Thị Y là chủ sở hữu và giao xe cho chị Dƣơng Thị Mỹ D2 là con gái của bà Y mƣợn để đi lại và gửi tại tầng hầm siêu thị BigC, thành phố Đà Nẵng. Vào ngày 23/03/2019, V nhờ Trần Phƣớc Minh V4 đến tầng hầm BigC, thành phố Đà Nẵng để dắt xe giúp. Do nhầm lẫn nên V4 dắt nhầm xe máy trên. Cơ quan CSĐT Công An quận Thanh Khê đã trả lại xe máy này cho chị Lê Thị Y là có căn cứ nên HĐXX không đề cập đến.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air blade, màu xám bạc đen, không có bản kiếm soát, số khung: RLHJF4613EY641825, số máy: JF46E2102106 do Lê Thị Y1 là chủ sở hữu và giao xe cho Mai Anh V3 sử dụng và quản lý. V3 mang xe cầm cố cho Trần Đình H9. Sau đó V3 và H9 mang đến cầm cố cho Trần Phƣớc V. Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe máy này cho chị Lê Thị Y1 là có căn cứ nên HĐXX không đề cập đến.

- Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại:

+ 01 xe máy hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, BKS: 92N1-460.47, số khung RLHJF1800AY250029; số máy: JF27E0290985 cho chủ sở hữu là chị Bùi Thị H3;

+ 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu xanh đen, 92N1 - 460.47, số khung: RLCUG061JY622605, số máy: G3D4E648335 cho chủ sở hữu là anh Trần Minh Q;

+ 01 xe máy hiệu yamaha exciter màu đen không rõ biển kiểm soát, số khung: RLCUG061HY596237; số máy: G3D4E621369 cho chủ sở hữu là anh Hoàng Trần Công D;

+ 01 xe máy Hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen không có biển kiểm soát; số khung: C640BY583356; số máy: 5C64583367 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Ngọc T3;

+ 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu xanh đen không rõ biển kiểm soát, số khung: C6J0GY178807; số máy: 5C6J178814 cho chủ sở hữu là anh Hồ Thúc H5.

Những tài sản thu hồi đƣợc trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ nên HĐXX không đề cập đến.

Đối với các đối tƣợng Hƣng, Dƣơng, Tài có hành vi mua xe từ bị cáo Nguyễn Hữu H nhƣng chƣa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng sẽ xác minh xử lý sau là có căn cứ nên HĐXX không đề cập đến.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hữu H khai nhận đã thực hiện trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng tại bãi đất trống đối diện quán café Cổ Ký trên đƣờng Lê Văn Duyệt, phƣờng Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng vào tháng 01/2019 nhƣng chƣa xác định đƣợc ngƣời bị hại, không thu hồi đƣợc tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng sẽ xác minh xử lý sau là có căn cứ nên HĐXX không đề cập đến.

Đối với Trần Phƣớc M7 và Trần Phƣớc Minh V4 có hành vi dắt xe máy giúp cho Trần Phƣớc V tại Siêu thị BigC, thành phố Đà Nẵng. T7 và V4 không biết đây là xe do V mua từ H, do V nhầm lẫn là xe máy của mình nên hƣớng dẫn làm V4 dắt nhầm xe máy của chị Lê Thị Y; V và V4 không có ý thức chiếm đoạt xe máy trên. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê không đề cập giải quyết là có căn cứ, HĐXX không xem xét đến.

Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Phi H1 và Trần Phƣớc V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu:

319.000.000 đồng x 5% = 15.950.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu H và Nguyễn Phi H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản"; bị cáo Trần Phƣớc V phạm tội "Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có".

1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm b, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H 09 (chín) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam ngày 24/6/2018.

2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r , s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H1 03 (ba) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam 30/8/2019.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Phƣớc V 06 (sáu) tháng tù giam. Đƣợc trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam là 02 tháng 26 ngày, thời hạn chấp hành hình phạt còn lại: 03 tháng 04 ngày. Thời gian tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H có nghĩa vụ:

- Bồi thƣờng cho ông Lê Minh V1 số tiền 8.500.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Hồ H2 số tiền 6.300.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Lê Anh K số tiền 22.400.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Đoàn Văn T số tiền 33.100.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho bà Nguyễn Thanh T1 số tiền 13.300.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho bà Nguyễn Thị M số tiền 25.500.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Nguyễn Thành N số tiền 9.400.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho bà Lê Thị S số tiền 7.500.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Nguyễn Hải  số tiền 29.800.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Lê Tất Minh T2 số tiền 27.800.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Trần Quốc D1 số tiền 32.000.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Nguyễn Vũ Thành Q1 số tiền 11.500.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Ngô Đình H4 số tiền 28.900.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho ông Nguyễn Bá Đ số tiền 32.600.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho bà Trần Thị Kim A số tiền 11.200.000 đồng;

- Bồi thƣờng cho bà Nguyễn Thị H6 số tiền 19.200.000 đồng;

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thƣờng thì phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nƣớc quy định tƣơng ứng với thời gian chậm thi hành án.

5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy các biển kiểm soát: 59U1-614.34 của xe máy nhãn hiệu Honda Airblade; 43C1-440.54 của xe máy nhãn hiệu Honda Airblade; 43K1-025.56 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo; 92G1-256.66 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter; 43R2-9678 của xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius; 92F6-8422 của xe máy nhãn hiệu Sukawa.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7, màu vàng, số imei 1: 353465103431951, số imei 2: 353466103431959 của bị cáo Nguyễn Hữu H; 01 điện thoại di động hiệu Nokia RM1172, số imei 1: 357318087067281, số imei 2: 357318089244789 của Trần Phƣớc V.

(Vật chứng hiện đang lƣu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng).

6. Án phí:

6.1 Án phí hình sự sơ thẩm: Nguyễn Hữu H, Nguyễn Phi H1 và Trần Phƣớc V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

6.2 Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 15.950.000đ (Mƣời lăm triệu chín trăm năm mƣơi nghìn đồng).

7. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án .

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ