vanban.org

Bản án 26/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hoàng Thị T cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2020/HS-ST
Ngày 19-02-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu

Ông Dương Văn Hánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành-Thư ký TAND huyệ n Tiên Du

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia

phiên tòa: Bà Hoàng Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 21/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST-HS ngày 06/02/2020 đối với bị cáo:

Hoàng Thị T, sinh năm 1992; HKTT: Thôn 3, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; Giớ i tí nh: Nữ; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đình T, sinh năm 1961 và con bà Hoàng Thị C, sinh năm 1962; Chồng: Chưa có; Có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2019 đến ngày 14/12/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang tại ngoại – Có mặt

* Bị hại: Chị Lý Trung T1, sinh ngày 11/01/2001 (vắng mặt)

HKTT: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi làm việc: Công ty TNHH S

Địa chỉ: Số 1 đường 6 tổng kho M - Khu công nghiệp V, xã , thị xã T, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 11/12/2019, Hoàng Thị T đi xe khách từ khu công nghiệp Q đến khu vực cầu Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh thì xuống xe. Sau đó, T đi bộ vào khu vực thôn Đ, xã H, huyện Tiên Du. Khi đi, T mang theo 01 chùm chìa khóa gồm 06 chìa với mục đích xem có khu trọ nào vắng người, sơ hở trong quản lý tài sản sẽ dùng chìa khóa mở khóa phòng trọ để trộm cắp. Khi đi đến khu nhà trọ của gia đình ông Phạm Công M thấy cửa cổng không khóa, T đi vào trong sân. Lúc này khoảng 11 giờ cùng ngày, trong khu trọ vắng người, T đi đến phía trước cửa phòng trọ số 17 của chị Lý Trung T1. Tại đây T dùng chùm chìa khóa mang theo tra thử lần lượt vào ổ khóa của phòng trọ vài lần thì mở được khóa cửa. Vào trong phòng, T thấy 01 chiếc ba lô và lục tìm tài sản nhưng không có tài sản gì. Sau đó T lấy 01 chiếc quần sóoc bò màu đen, 01 chiếc quần ngủ dài màu đen, 01 chiếc áo khoác màu vàng, 02 chiếc áo sơ mi dài tay đang treo ở dây cho vào trong chiếc ba lô bằng vải và lấy 01 chiếc mũ bảo hiểm Royal màu đen vàng. Tiếp theo, T đi lên gác xép của phòng trọ và lấy được 01 chiếc điện T Iphone 7. Khi ra đến cửa phòng trọ, T lấy được 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng. Sau đó, T cho tất cả tài sản trộm cắp được vào trong ba lô rồi đi ngoài và khóa cửa phòng lại như cũ.

Đến chiều ngày 11/12/2019, sau khi chị T1 phát hiện bị mất tài sản đã làm đơn trình báo Cơ quan Công an. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và T1 giữ: 01 chiếc ổ khóa nhãn hiệu Việt Nhật màu vàng. Sau khi nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đến hồi 18 giờ 45 phút ngày 11/12/2019, T đã đến Công an xã Hoàn Sơn đầu thú và tự nguyện giao nộp toàn bộ tài sản lấy trong phòng chị T1, 01 chùm chìa khóa có 6 chìa bằng kim loại và 01 chiếc bấm móng tay; 01 chiếc điện T Oppo A39 và 87.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 698/KLGĐ-PC09 ngày 13/12/2019 của Phòng Kỹ T1ật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là kim loại Vàng, có khối lượng là 0,47 chỉ; hàm lượng Vàng là 37,8%”. Tại Kết luận định giá tài sản số 76 ngày 23/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyệ n Tiên Du kế t luậ n tổng trị giá tài sản là: 6.047.680 đồng cụ thể như sau:

- 01 chiếc điện T di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng, bản 32GB. Có giá trị còn lại là: 3.900.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng có khối lượng 0,47 chỉ, hàm lượng vàng là 37,8%. Có giá trị còn lại là: 0,47 chỉ x 4.144.000đ/chỉ = 1.947.680 đồng;

- 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu “Royal” màu đen vàng. Có giá trị còn lại là 200.000 đồng.

Đối với chiếc ốp lưng điện T, chiếc ba lô và số quần áo do đã cũ, giá trị không đáng kể nên chị T1 không yêu cầu định giá đối với những tài sản này.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 14/CT - VKS ngày 21/01/2020 của Viện kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiên Du truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T khai nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng. Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên vào trưa ngày 11/12/2019 bị cáo đã đột nhập vào phòng trọ của chị T1 chiếm đoạt 01 chiếc điện T di động Iphone 7 màu hồng; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại vàng; 01 chiếc mũ bảo hiểm với tổng giá trị tài sản là 6.047.680 đồng và một số quần áo. Bị cáo muốn xin lại chiếc điện T di động nhãn hiệu Oppo A39 và 87.000 đồng.

Bị hại là chị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 25/12/2019, Cơ quan Công an huyện Tiên Du đã trả lại chị toàn bộ tài sản do bị cáo T trộm cắp nên chị không có yêu cầu bồi thường. Đối với chiếc ổ khóa đã cũ chị không đề nghị xin lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 14/CT- VKS ngày 21/01/2020. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 07 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.

4/ Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch T1 tiêu hủy 01 chùm chìa khóa có 06 chìa bằng kim loại kèm theo một chiếc bấm móng tay, 01 ổ khóa bằng kim loại. Trả lại bị cáo 01 điện T Oppo A39 kèm theo simcard và 87.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa hôm nay , bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội và không tranh luận.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 11/12/2019 tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, một mình bị cáo Hoàng Thị T lén lút đột nhập vào phòng trọ của chị Lý Trung T1 chiếm đoạt 01 chiếc điện T di động Iphone 7 có giá trị 3.900.000 đồng, 01 chiếc nhẫn bằng kim loại vàng có khối lượng 0,47 chỉ có giá trị 1.947.680 đồng, 01 chiếc mũ bảo hiểm “Royal” màu đen vàng có giá trị 200.000 đồng, 01 chiếc ba lô bằng vải, 02 chiếc quần và 03 chiếc áo của chị Lý Trung T1. Tổng giá trị tài sản bị cáo T chiếm đoạt của chị T1 là 6.047.680 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và T1ộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi bị hại trình báo, bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Công an đã trả chị T1 là chủ sở hữu toàn bộ điện T, nhẫn vàng, mũ bảo hiểm, ba lô, quần, áo. Đối với chiếc điện T di động Oppo A39 và 87.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với chùm chìa khóa kèm theo bấm móng tay và chiếc ổ khóa của phòng chị T1 giá trị sử dụng thấp nên Hội đồng xét xử tịch T1 thiêu hủy.

Quá trình điều tra vụ án, anh Hà Văn K hiện đang thuê trọ cùng chị T1 có trình báo bị mất trộm số tiền 3.000.000 đồng anh để trong ống sắt lan can gác xép nhưng không xác định được chính xác thời điểm mất tiền. Quá trình điều tra T1 thập tài liệu chứng cứ, không đủ căn cứ chứng minh bị cáo T là người đã trộm cắp tiền của anh K. Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ liên quan đến nội dung trình báo của anh K để tiếp tục tiến hành điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Thị T cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch T1 tiêu hủy 01 chùm chìa khóa có 06 chìa bằng kim loại, kèm theo một chiếc bấm móng tay; 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng nhãn hiệu “Việt Nhật”. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện T Oppo A39 đã qua sử dụng, kèm simcard Viettel và số tiền 87.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2020)

4.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án.

Cỡ chữ