- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T xin ly hon V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị A đối với anh Đặng Văn B. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Đặng Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2020/HNGĐ-ST. Ngày 08-6-2020. V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Phước
Ông Lê Đình Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Lớn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 773/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp C, xã D, huyện E, tỉnh F. (Nay là khu phố C, phường D, thị xã E, tỉnh F)- Có mặt.
Bị đơn: Anh Đặng Văn B, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp C, xã D, huyện E, tỉnh F. (Nay là khu phố C, phường D, thị xã E, tỉnh F)- Vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bày: Chị và anh B cưới nhau vào năm 1995, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện E (nay là phường D, thị xã E) vào ngày 27-12-2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống bên chồng tại ấp C, xã D, huyện E (nay là khu phố C, phường D, thị xã E). Sau khi kết hôn được 01 năm thì chị phát hiện chồng có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, nhưng vì thương chồng nên chị cố gắng sống và khuyên nhủ; nhưng càng về sau này chồng càng đi sớm về khuya, có khi đi nhiều ngày không về. Tuy chị không bắt gặp việc anh B có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nhưng anh B cũng thừa nhận việc này với chị. Ngoài ra, anh B còn ham mê cờ bạc gây nợ nần nên chị phải bán đất trả nợ. Sau khi khuyên nhiều lần nhưng anh B không thay đổi nên chị bỏ về nhà mẹ ruột sống và vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 11-2019 đến nay. Sau khi chị bỏ đi anh B có đến gặp kêu về nhưng chị không đồng ý nên xảy ra cãi vã nhau. Cha mẹ hai bên đã chết nên không có hòa giải cho vợ chồng. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh B.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Hoài H, sinh ngày 26-7-1996, Đặng Hoài N, sinh ngày 20-8-1998, hiện các con đang sống với chị và đã trưởng thành có công việc làm ổn định.
Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung nhưng chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Đặng Văn B đã được Tòa án: Tống đạt thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ anh B để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh B đều cố tình vắng mặt không có lý do và không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự; Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt không có lý do chính đáng mặt dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, gây khó khăn, kéo dài việc giải quyết vụ án.
2. Việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh B.
- Về con chung: Hai cháu Đặng Hoài H, sinh ngày 26-7-1996 và Đặng Hoài N, sinh ngày 20-8-1998 đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh B đến lần thứ hai nhưng anh B vẫn cố tình vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị A và anh B tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1995, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện E (nay là phường D, thị xã E) vào ngày 27-12-2001, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 1996 thì phát sinh mâu thuẫn do trong thời gian sống chung chị A cho rằng anh B có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và ham mê cờ bạc gây nợ nần khiến chị phải bán tài sản để trả nợ, chị đã khuyên can nhiều lần nhưng anh vẫn không thay đổi kéo dài đến tháng 11 năm 2019 không chịu được nữa nên chị bỏ về nhà mẹ ruột sống và vợ chồng ly thân cho đến nay. Qua xác minh tại địa phương nơi vợ chồng chị A, anh B sinh sống thể hiện: Vợ chồng chị A, anh B xảy ra mâu thuẫn là có thật nguyên nhân do vợ chồng mất lòng tin ở nhau trong chuyện tình cảm dẫn đến mâu thuẫn, cãi vã nhau. Xét mâu thuẫn giữa chị A và anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị A yêu cầu ly hôn với anh B, nhận thấy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Hai cháu Đặng Hoài H, sinh ngày 26-7-1996 và Đặng Hoài N, sinh ngày 20-8-1998 đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã E là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị A đối với anh Đặng Văn B. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Đặng Văn B.
2. Về con chung: Hai cháu Đặng Hoài H, sinh ngày 26-7-1996 và Đặng Hoài N, sinh ngày 20-8-1998 đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị A đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017794 ngày 20-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh ( nay là chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh). Chị A đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Chị A được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - UBND phường Gia Lộc; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hà Như Thủy |