vanban.org

Bản án 26/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TAND tỉnh Ninh Thuận;

VKSND huyện N; THADS huyện N; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa bà T với ông T"
  • Tòa quyết gì? TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26 /2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21 -12 - 2020
V/v tranh chấp:“Ly hôn, con chung"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƢỚC TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn S u

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Bá Thị Thu Vân

- Bà Lê Thị Hường

Thƣ ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét x sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2020/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020, về việc tranh chấp: "Ly hôn, con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số: 27/2020/QĐXX-ST, ngày 20-11-2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 4-12-2020.

1. Nguyên đơn: Bà Kiều Thị T, sinh năm: 1994 (có mặt). Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bị đơn: Ông Lâm Út T, sinh năm: 1988 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn trình bày: Về hôn nhân: Bà T, ông T tự tìm hiểu được 2 bên gia đình chấp nhận, về chung sống năm 2014, năm 2015 có đến UBND xã P đăng ký kết hôn; quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến khoảng năm 2016 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp tính nhau hay xảy ra cãi vã ông T bỏ về nhà cha, mẹ ruột ở và sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay bà T xét thấy tình cảm giữa bà với ông T không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông T. Về con chung: Có 01 con chung tên Lâm Phi L, sinh ngày 14-6-2014 con chung bà T đang chăm sóc, nuôi dưỡng bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Về thu nhập: Bà T làm thuê mỗi tháng 6.000.000 đồng. Tòa án tống đạt các văn bản theo thủ tục tố tụng bị đơn không có mặt tại Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét x phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện N thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi triệu tập, thụ lý, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải và các thủ tục khác cũng được thực hiện đầy đủ đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét x vào nghị án. Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét x áp dụng Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự tuyên x chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà T được ly hôn ông T. Về tài sản chung, nợ chung: không có, đề nghị Hội đồng xét x không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: "Ly hôn, nuôi con chung" [2] Nội dung pháp luật áp dụng: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật tố tụng dân sự 2015. [3]Về hôn nhân: Bà Kiều Thị T, ông Lâm Út T tự tìm hiểu chung sống với nhau năm 2014 có đến cơ quan cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn vào năm 2015 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến khoảng năm 2016 xảy ra mâu thuẫn, không giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, không quan tâm đến nhau, không có trách với nhau, tình cảm lạnh nhạt sống ly thân. Qua xác minh bà T, ông T có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân khoảng năm 2016 cho đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T, ông T cuộc sống chung không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T xin ly hôn ông T là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét x chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T. [4] Về con chung: Có 01 con chung tên Lâm Phi L, sinh ngày 14-6-2014 bà Tđang chăm sóc, nuôi dưỡng bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi không yêu cầu ông Thừa cấp dưỡng; xét thấy cháu L đang sống chung với bà T cuộc sống ổn định tình cảm mẹ con khắng khít. Hội đồng xét x : x giao cháu L cho Bà T nuôi là có căn cứ. [5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có. [6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét x ; Hội đồng xét x chấp nhận ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. [7] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 bà Thuyền là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0022515, ngày1 9 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N.. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 38; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 "hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí"; Tuyên xử Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Kiều Thị T, bà Kiều Thị T được ly hôn ông Lâm Út T. Về con chung: Giao con chung tên Lâm Phi L, sinh ngày 14-6-2014 cho bà T đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Lâm Út T có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Bà Kiều Thị T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Về án phí: Buộc bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà T đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0022515, ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Án x công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Báo cho người có mặt biết quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án theo thủ tục tố tụng.

- Nơi nhận:

Cỡ chữ