vanban.org

Bản án 26/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị L.

Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Liên - Nguyễn Văn Thuận"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24- 6 - 2020
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Văn Chiếu

Ông Đặng Hoàng Mích

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Lanh - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về hôn nhân và gia đình: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:130/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020, Quyết định hoãn phiên Tòa số: 30/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1988 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện B, tỉnh T.

- Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 5, xã B, huyện Đ, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn đề ngày 13/01/2020, bản tự khai ngày 17/3/2020, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T cưới và chung sống năm 2009, đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh T. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, do anh T thường xuyên uống rượu, đánh đập chị, không lo cho gia đình nhưng vì mẹ chồng lớn tuổi chị vẫn chịu đựn. Chị và anh T ly thân từ tháng 01 năm 2020 đến nay, mỗi người sống riêng, chị về nhà cha mẹ ruột sống, cả hai không có hàn gắn lại tình cảm. Quá trình chung sống chị và anh T có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày: 23/01/2011, chị đang nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung, nợ chung: Không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, chị L vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.

* Anh Nguyễn Văn T các lần Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử đều vắng mặt nên không có lời khai.

*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm trong việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho đương sự còn chậm chưa đúng quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự cần rút kinh nghiệm thực hiện tốt trong thời gian tới. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn trong vụ án đã chấp hành đúng và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Riêng bị đơn anh Nguyễn Văn T các lần hòa giải, xét xử đều vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh T là phù hợp, đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L. Con chung: Để chị L được nuôi dưỡng. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Đại tống đạt và nhận hợp lệ các văn bản tố tụng, được Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, xét xử đến lần thứ 2 nhưng anh T vẫn vắng mặt, anh T vẫn còn sinh sống tại địa phương. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T cưới và chung sống năm 2009, đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh T, phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị L khai vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Nguyên nhân theo chị L trình bày là do chồng chị anh T thường xuyên uống rượu, đánh đập chị, không lo cho gia đình. Chị và anh T ly thân từ tháng 01 năm 2020 đến nay, mỗi người sống riêng, chị về nhà cha mẹ ruột sống, cả hai không có hàn gắn lại tình cảm. Anh T cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của chị L. Điều đó chứng tỏ anh T không muốn hàn gắn lại tình cảm vợ chồng với chị L, hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị L vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh T. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

Chị Nguyễn Thị L khai, chị và anh Nguyễn Văn T chung sống có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày: 23/01/2011, con chung hiện nay chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng. Đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Các lần mời giải quyết vụ án tại Tòa án và xét xử sơ thẩm, anh T đều vắng mặt, không có ý kiến phản hồi về việc nuôi dưỡng con chung. Ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp quy định pháp luật, phù hợp với nguyện vọng con chung Nguyễn Thị Quỳnh N trên 07 tuổi và hoàn toàn có căn cứ theo Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chị L nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị L nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không xem xét giải quyết là phù hợp.

Tài sản chung, nợ chung:

Đơn khởi kiện và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, chị L khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, diễn biến tại phiên tòa và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị L phải chịu theo luật định là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 233, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị L.

2. Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

3.Về con chung:

Chị Nguyễn Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày: 23/01/2011. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Trong thời gian con chung của chị L và anh T chưa thành niên (Chưa đủ 18 tuổi), chị L có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Anh T không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung, nợ chung:

Đơn khởi kiện và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay chị Nguyễn Thị L khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

5. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010580 ngày 18/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, chị L đã nộp đủ án phí.

Chị Nguyễn Thị L có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên Tòa cũng có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ