- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp không công nhận vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17/7/2020 V/v “Tranh chấp ly hôn - Không công nhận quan hệ vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiến
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Bùi Thanh Trí
2/ Ông Võ Thành Hƣng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lai Ngọc Trí - Thư ký Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 115/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn – Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2020/QĐ-ST ngày 29 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1984 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ hiện nay:khu vực B, phường L, quận T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Bà Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
HKTT: xã H, huyện Đ, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ hiện nay: khu vực Y, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/4/2020 và quá trình giải quyết, nguyên đơn ông Lê Văn N trình bày: Tôi và bà Nguyễn Hoàng Anh T tìm hiểu, quen biết, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào tháng 02/2010, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, thời gian sau tôi và bà T bắt đầu mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau, quan điểm sống trái ngược nhau. Đến tháng 9/2011 tôi và bà T chấm dứt mối quan hệ hôn nhân.
Vì vậy, ông Lê Văn N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận C xem xét và giải quyết:
- Về hôn nhân: Cho tôi được ly hôn – Không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Nguyễn Hoàng Anh T.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Hoàng Anh T: Được Tòa án triệu hợp lệ 02 lần nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn tiếp tục vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về sự có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Bị đơn vắng mặt các lần hòa giải, xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy mâu thuẫn giữa ông N và bà T đã thật sự nghiêm trọng, ông N và bà T đã không còn chung sống với nhau thời gian dài, đời sống hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Ông Lê Văn N và bà Nguyễn Hoàng Anh T chung sống như vợ chồng và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào tháng 02 năm 2010 nhưng không có đăng ký kết hôn, việc ông N và bà T chung sống là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống, ông N và bà T phát sinh mâu thuẫn, ông N có đơn khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với bà T nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn – Bà Nguyễn Hoàng Anh T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa 02 lần nhưng đương sự đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án (vắng mặt bị đơn) theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của ông N, Hội đồng xét xử thấy rằng, ông bà tuy tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn nhưng hôn nhân của ông, bà được xác lập năm 2010 và cho đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó cần căn cứ quy định tại khoản 4 điều 3 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 để không công nhận quan hệ vợ chồng của ông, bà. Xét thấy, giữa ông, bà có thời gian chung sống hạnh phúc được khoảng vài tháng. Tuy nhiên, đến năm 2011 mâu thuẫn phát sinh, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cả hai đã ly thân từ đó đến nay đã hơn 06 năm. Hiện tại, cả hai không muốn duy trì mối quan hệ sống chung. Ngoài ra, tại phiên tòa hôm nay bà T tiếp tục vắng mặt, chứng tỏ bà T cũng không tha thiết níu kéo mối hôn nhân này, do vậy ông N yêu cầu không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa ông với bà T là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật nghĩ nên chấp nhận yêu cầu này của ông N, không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa ông với bà T.
Về con chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn ông Lê Văn N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn N về không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Nguyễn Hoàng Anh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Văn N và bà Nguyễn Hoàng Anh T.
2. Về con chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Lê Văn N phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí ông N đã nộp, theo biên lai thu số 006003 ngày 23/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận C, thành phố Cần Thơ thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm phải chịu. Ông N đã nộp xong án phí.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q. C; - Chi cục THADS quận C; - TAND TP.CT; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Trung Hiến |