- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đàm Trung H và Nguyễn Thị MInh H1 tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Minh Hảo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 33/2020/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2020/HNGĐ-PT Ngày 21-12-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Minh Hạnh
Bà Phạm Thị Thanh Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Đào Thị Huệ, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 30/2020/TLPT- HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 33/2020/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2020/QĐ-PT ngày 13 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Đàm Trung Hiếu, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT: Số 84 Lý Thường Kiệt, phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 2B khu 5 tầng ngõ 280 Trần Nguyên Hãn, phường Niệm Nghĩa, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Minh Hảo, sinh năm 1981; nơi ĐKHKTT: Số 84 Lý Thường Kiệt, phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 20/56 Đình Đông, phường Đông Hải, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; có mặt.
3. Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Minh Hảo là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai của nguyên đơn là anh Đàm Trung Hiếu trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Minh Hảo xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng vào năm 2008, đến nay có 02 con chung tên là: Đàm Khánh An, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2008 và Đàm Nhật Huy, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong quan điểm sống, hơn nữa anh cho rằng chị Hảo có những lời lẽ xúc phạm tới gia đình chồng. Anh cũng đã nhiều lần tìm cách hòa giải mâu thuẫn nhưng chị Hảo không thay đổi cách sống, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, lạnh nhạt. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay và không còn quan tâm tới nhau về mọi mặt. Nay anh Hiếu xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hảo.
Về con chung: Anh Hiếu có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con Đàm Khánh An, còn để chị Hảo trực tiếp nuôi con Đàm Nhật Huy. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Hiếu nhận nộp cả tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị Minh Hảo trình bày: Chị Hảo nhất trí với trình bày của anh Hiếu về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, con chung và tài sản chung. Đến nay chị cho rằng mặc dù vợ chồng có mâu thuẫn như anh Hiếu trình bày là đúng, cơ bản nguyên nhân là do mối quan hệ tình cảm giữa chị và gia đình nhà chồng; chị cũng đã nhiều lần tìm cách hòa hợp với bố mẹ chồng nhưng bố mẹ chồng và chồng chị không chấp nhận. Chị cho rằng mặc dù vợ chồng sống ly thân gần 6 năm nay không quan tâm đến nhau nhưng chị vẫn còn tình cảm với anh Hiếu; các con chung cần sự chăm sóc của cả bố và mẹ nên chị mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung, chị không đồng ý ly hôn với anh Hiếu.
Về con chung: Chị thừa nhận vợ chồng có 02 con chung và hướng giải quyết vấn đề nghĩa vụ chăm sóc nuôi con chung sau khi ly hôn như anh Hiếu trình bày là đúng. Tuy nhiên tại phiên tòa chị đề nghị nếu vợ chồng ly hôn, chị nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung.
Về tài sản chung: Trong quá trình tòa án giải quyết vụ án và tại phiên hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ chị không có yêu cầu gì và thống nhất với anh Hiếu là vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm chị lại có yêu cầu xem xét về phân chia tài sản chung của vợ chồng và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu của mình.
Tại Bản án số 33/2020/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Anh Đàm Trung Hiếu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh Hảo.
2. Về con chung: Khi ly hôn, giao con chung của anh Đàm Trung Hiếu và chị Nguyễn Thị Minh Hảo tên là Đàm Khánh An, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2008 cho anh Hiếu trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Đàm Nhật Huy, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013 cho chị Hảo trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24 tháng 8 năm 2020 chị Nguyễn Thị Minh Hảo có đơn kháng cáo đề nghị hủy Bản án sơ thẩm với lý do:
Về quan hệ hôn nhân: Tòa án cấp sơ thẩm cho anh chị ly hôn là không có căn cứ vì chị vẫn còn tình cảm với chồng, mâu thuẫn chưa trầm trọng.
Về con chung: Tòa án cấp sơ thẩm giao con Đàm Khánh An cho anh Hiếu nuôi là không có căn cứ vì anh Hiếu làm việc xa nhà, không có thời gian ở cạnh con, việc chăm sóc cháu đều do ông bà nội.
Về tài sản chung: Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết yêu cầu chia tài sản chung là vi phạm nguyên tắc tự định đoạt của đương sự. Trong quá trình giải quyết chị nhiều lần đề nghị chia tài sản chung nhưng Tòa án không xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yên cầu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Chị Hảo kháng cáo không đồng ý ly hôn vì chị cho rằng vẫn còn tình cảm với anh Hiếu. Song xét thấy, anh Hiếu chị Hảo đã sống ly thân nhiêu năm nay, vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai, từ khi vợ chồng sống ly thân chị Hảo cũng không có hành động gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, do đó Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cho anh chị được ly hôn là có căn cứ. Về con chung: Từ khi sống ly thân đến nay thực tế anh Hiếu, chị Hảo mỗi người nuôi một con và hai bên đều có đủ điều kiện để đảm bảo cuộc sống của các con, do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm giao anh Hiếu trực tiếp nuôi con là cháu Đàm Khánh An, chị Hảo trực tiếp nuôi con là Đàm Nhật Huy là có căn cứ. Về tài sản chung: Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết nên không có căn cứ để giải quyết tại cấp phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Hảo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án và sau khi tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Minh Hảo hiện ở tại Số 20/56 Đình Đông, phường Đông Hải, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nên tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa anh Hiếu, chị Hảo thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Hiên có đơn kháng cáo, do đó Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của chị Hảo:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hiếu và chị Hảo kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng vào năm 2008 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống, lối sống, tính cách không hòa hợp. Mặc dù gia đình hai bên nội ngoại, người thân đã khuyên giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Chị Hảo kháng cáo không đồng ý ly hôn với anh Hiếu vì cho rằng chị vẫn còn yêu thương anh Hiếu, giữa anh chị tuy có xảy ra mâu thuẫn nhưng những mâu thuẫn đó đều là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống vợ chồng, chưa đến mức trầm trọng không thể hàn gắn. Tuy nhiên, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Từ năm 2014 đến nay, anh chị đã sống ly thân, chị Hảo và con trai là cháu Nhật Huy về ở nhà bố mẹ đẻ, anh Hiếu và cháu Khánh An ở nhà bố mẹ anh Hiếu, không ai còn quan tâm đến ai, cả hai bên chỉ có trách nhiệm với con chung. Trong thời gian sống ly thân, chị Hảo cũng không có hành động gì để chủ động hàn gắn tình cảm vợ chồng, còn anh Hiếu không còn tình cảm và kiên quyết xin ly hôn. Xét tình trạng hôn nhân của anh Hiếu và chị Hảo là thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Đàm Trung Hiếu được ly hôn chị Nguyễn Thị Minh Hảo là có căn cứ.
Về con chung: Anh Đàm Trung Hiếu và chị Nguyễn Thị Minh Hảo có 02 con chung tên là: Đàm Khánh An, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2008 và Đàm Nhật Huy, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013. Tại các buổi hòa giải, chị Hảo và anh Hiếu đều thống nhất: Anh Hiếu nuôi con là cháu Đàm Khánh An và chị trực tiếp nuôi con Đàm Nhật Huy. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm chị thay đổi ý kiến và đề nghị được nuôi cả hai con và sau khi xét xử sơ thẩm chị tiếp tục kháng cáo đề nghị được nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh chị sống ly thân (năm 2014) đến nay, anh Hiếu trực tiếp nuôi con là cháu Đàm Khánh An, chị Hảo trực tiếp nuôi con là Đàm Nhật Huy, mỗi bên đều đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng tốt các con. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung Đàm Khánh An cho anh Hiếu trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Đàm Nhật Huy cho chị Hảo trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, không làm xáo trộn cuộc sống của các con. Như vậy, việc chị Hảo đề nghị giao cả hai con chung cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là không có cơ sở.
Về tài sản chung: Tại các bản tự khai và các buổi công khai chứng cứ và hòa giải chị Hảo đều có quan điểm thể hiện về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa sơ thẩm chị Hảo đề nghị xem xét xét phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, yêu cầu của chị Hảo phát sinh sau khi Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết việc phân chia tài sản chung là có căn cứ, đúng pháp luật. Chị Hảo có quyền làm đơn yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn để tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
Từ nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Minh Hảo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Hảo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Minh Hảo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 33/2020/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng:
1. Về hôn nhân: Anh Đàm Trung Hiếu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh Hảo.
2. Về con chung: Khi ly hôn, giao con chung của anh Đàm Trung Hiếu và chị Nguyễn Thị Minh Hảo là cháu Đàm Khánh An, sinh ngày 13/4/2008 cho anh Hiếu trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung cháu Đàm Nhật Huy, sinh ngày 09/01/2013 cho chị Hảo trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đàm Trung Hiếu phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009804 ngày 03 tháng 3 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Anh Hiếu đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Minh Hảo phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013986 ngày 31 tháng 8 năm 2020 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, chị Hảo đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
5. Về quyền thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -VKSNDTP Hải Phòng; - TAND quận Lê Chân; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. CÁC THẨM PHÁN Đặng Minh Hạnh Phạm Thị Thanh Bình | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thị Thúy Hà |