vanban.org

Bản án 26/2020/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H.

Buộc bà Phạm Thị B phải có nghĩa vụ giao cho vợ chồng bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H 800kg cà phê nhân xô. [2]. Về án phí: Bà Phạm Thị B phải chịu 1.300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "V + H - B"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƢ M’GAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2020/DS-ST
Ngày 20-7-2020
“V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Nở.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Hạnh.

2. Bà Cao Thị Hồng Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Thành - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 20/7/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2019/TLST – DS ngày 10 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quy t định đưa vụ án ra x t xử số: 32/2020/QĐXX-ST ngày 09 tháng 6 năm 2020 và Quy t định hoãn phiên tòa số 25/2020/QĐST-DS ngày 29/6/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hà Thị V (tên gọi khác: O ) (có mặt), sinh năm 1978 và ông Huỳnh Mộng H , sinh năm 1972 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Đội ..., buôn H , xã H , huyện C, tỉnh Đ.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền cho ông Huỳnh Mộng H: Bà Hà Thị V, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: Đội ..., buôn H , xã H , huyện C, tỉnh Đ.

Theo Giấy ủy quyền ngày 18/12/2019.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Buôn S, xã H , huyện C, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hà Thị V trình bày:

Vợ chồng tôi là chủ đại lý thu mua nông sản và bán phân bón. Trong năm 2018, bà Phạm Thị B nhiều lần chốt (theo hình thức chốt giá trả tiền trước nhận cà phê sau) cà phê nhân xô cho vợ chồng tôi, cụ thể:

Ngày 16/7/2018 bà B chốt 400kg cà phê nhân xô; Ngày 25/7/2018 bà B chốt 150kg cà phê nhân xô; Ngày 14/8/2018 bà B chốt 100kg cà phê nhân xô; Ngày 22/8/2018 bà B chốt 50kg cà phê nhân xô; Ngày 28/8/2018 bà B chốt 100kg cà phê nhân xô. Tổng cộng 800kg cà phê nhân xô. Bà B hẹn đ n ngày 30/12/2018 trả cho vợ chồng tôi. Khi bà B chốt cà phê có ký nhận vào hóa đơn. Các lần chốt cà phê nhân xô nêu trên vợ chồng tôi đã trả tiền đủ cho bà B. Tuy nhiên, đ n hẹn bà B không giao cà phê nhân xô cho vợ chồng tôi mà cố tình trốn tránh.

Vợ chồng tôi đề nghị Tòa án giải quy t buộc bà B trả cho vợ chồng tôi 800kg cà phê nhân xô quy chuẩn, quy ra giá tiền tại thời điểm khởi kiện là 34.000 đồng/kg x 800kg = 27.200.000 đồng.

Tuy nhiên, ngày 07/5/2020 bà V và ông H có đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà B trả cho vợ chồng bà V, ông H 800kg cà phê nhân xô.

Tại bản tự khai bị đơn bà Phạm Thị B trình bày: Bà đồng ý với ý ki n của nguyên đơn bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H. Trong năm 2018, bà nhiều lần chốt cà phê nhân xô cho vợ chồng bà V và ông H, cụ thể: Ngày 16/7/2018 bà B chốt 400kg cà phê nhân xô; Ngày 25/7/2018 bà B chốt 150kg cà phê nhân xô; Ngày 14/8/2018 bà B chốt 100kg cà phê nhân xô; Ngày 22/8/2018 bà B chốt 50kg cà phê nhân xô; Ngày 28/8/2018 bà B chốt 100kg cà phê nhân xô. Tổng cộng 800kg cà phê nhân xô, hẹn đ n ngày 30/12/2018 trả. Khi chốt cà phê bà B có ký nhận vào hóa đơn. Tuy nhiên, đ n tháng 12 năm 2018 bà đã trả cho bà V và ông H 250kg cà phê nhân xô. Vì vậy, hiện nay bà chỉ còn nợ bà V và ông H 550kg cà phê nhân xô. Do điều kiện kinh t khó khăn nên bà B xin trả mỗi năm một ít.

Tại phiên tòa nguyên đơn không đồng ý với ý ki n của bà B là đã trả cho nguyên đơn 250kg cà phê nhân xô và cũng không đồng ý với phương thức trả nợ của bà B.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng x t xử đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng đầy đủ quy định tại các Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Phạm Thị B chưa thực hiện đúng đầy đủ quy định tại các Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng x t xử: Căn cứ các Điều 430, 434 của Bộ luật dân sự; Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H. Buộc bà Phạm Thị B phải trả lại cho bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H 800kg cà phê nhân xô.

Về án phí: Bà Phạm Thị B phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào k t quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quy t là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, thuộc thẩm quyền giải quy t của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Phạm Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng x t xử quy t định x t xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Hóa đơn mua bán cà phê thể hiện các ngày 16/7, ngày 25/7, ngày 14/8, ngày 22/8 và ngày 28/8 năm 2018 với tổng số 800kg cà phê nhân xô, hẹn ngày 30 tháng 12 năm 2018 trả đủ. Người nợ cà phê là bà Phạm Thị B và người ký nhận là bà Phạm Thị B. Như vậy, giữa các bên đã ký k t hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đ n thời hạn giao cà phê, bà B không thực hiện là vi phạm về nghĩa vụ của người bán theo quy định tại Điều 434 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H có cơ sở chấp nhận, buộc bà Phạm Thị B trả cho vợ chồng bà V, ông H 800kg cà phê nhân xô.

Bà B cho rằng vào tháng 12 năm 2018 bà đã trả cho bà V và ông H 250kg cà phê nhân xô. Vì vậy, hiện nay bà chỉ còn nợ bà V và ông H 550kg cà phê nhân xô là không có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, trong quá trình giải quy t vụ án, bà B không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Nguyên đơn bà V và ông H cũng không thừa nhận bà B đã giao số cà phê như bà B trình bày.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng x t xử x t thấy, ý ki n của Kiểm sát viên có căn cứ pháp lý nên chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Phạm Thị B phải chịu án phí theo quy định, giá cà phê nhân xô tại thời điểm x t xử sơ thẩm ngày 20/7/2020 là 32.500đ/kg x 800kg = 26.000.000đ x 5% = 1.300.000 đồng.

Nguyên đơn bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 430; Điều 434 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H.

Buộc bà Phạm Thị B phải có nghĩa vụ giao cho vợ chồng bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H 800kg cà phê nhân xô.

[2]. Về án phí: Bà Phạm Thị B phải chịu 1.300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn bà Hà Thị V và ông Huỳnh Mộng H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền 860.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M’gar theo biên lai thu số AA/2019/0004191 ngày 03/12/2019.

[3]. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm y t bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ