vanban.org

Bản án 26/2019/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 14/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Duy H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: 1. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Duy H 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Duy H - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tạ Duy H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 26/2019/HSST
Ngày 14/6/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.

Thẩm phán: Bà Tô Thị Lý.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Đức Lợi.

Ông Tạ Nhật Tân.

Bà Phùng Thị Thanh Mai.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Phương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Thuần Long - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2019/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/HSST-QĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Tạ Duy Hùng, sinh năm 1975; nơi cư trú: khu 6, thị trấn DĐ, huyện TT, tỉnh Thái Bình; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Tạ Duy L (đã chết) và bà Tạ Thị T, sinh năm 1942; tiền án: bản án số 67/HSPT ngày 17/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự; tiền sự: không; nhân thân: Có thời gian tham gia quân đội từ năm 1995 - 1997; bị tạm giữ từ ngày 21/12/2018 đến ngày 27/12/2018 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Văn H - Văn phòng luật sư Thái Bình, Đoàn luật sư tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng :

1. Ông Đỗ Hữu Đ - Sinh năm 1955.

Nơi cư trú: thôn N, xã TT, huyện TT, tỉnh Thái Bình.

2. Chị Đinh Thị N - Sinh năm 1996.

Nơi cư trú: thôn QL, xã TH, huyện TT, tỉnh Thái Bình.

3. Anh Đào Ngọc H - Sinh năm 2000.

Nơi cư trú : Thôn KL, xã TQ, huyện TT, tỉnh Thái Bình.

4. Anh Tạ Duy L - Sinh năm 1968.

Địa chỉ : Khu 6, thị trấn DĐ, huyện TT, tỉnh Thái Bình.

5. Anh Trần Bá V - Sinh năm 1983.

Nơi cư trú: thôn HĐ, xã TL, huyện TT, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt bị cáo, luật sư H; vắng mặt những người làm chứng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h ngày 21/12/2018 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Bình phối hợp với Tổ công tác Cục nghiệp vụ và Pháp luật (Bộ tư lệnh cảnh sát biển) và Công an huyện TT làm việc tại khu vực xã TV, huyện TT thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về một người đàn ông điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave α màu xanh không biển kiểm soát đang đi trên trục đường từ xã TH về xã TT có biểu hiện cất giấu ma túy. Trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương và người chứng kiến, Tổ công tác tiến hành kiểm tra người Tạ Duy H là người điều khiển xe mô tô có đặc điểm trên phát hiện và thu giữ tại túi quần bên trái bị cáo đang mặc có 01 túi nilon trong suốt in nhiều chữ “Đông Thành” màu đỏ, bên trong có 02 túi nilon một mặt trong suốt, một mặt màu bạc, túi thứ nhất có 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt; túi thứ hai có 02 túi nilon trong suốt kích thước khác nhau đều có chứa chất dạng tinh thể trong suốt; túi quần bên phải phía trước bị cáo đang mặc có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ và 01 cân điện tử màu đen. Kiểm tra chiếc xe máy Wave α do bị cáo điều khiển không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã đưa bị cáo về trụ sở Ủy ban nhân dân xã TT để làm các thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của bị cáo Cơ quan điều tra thu giữ trên giường trong phòng ngủ 01 túi màu đen có chữ “VGOD” bên trong có 01 túi nilon trong suốt có mép cài màu đỏ trong có thảo mộc màu xanh (mẫu A1); 02 điếu thuốc lá màu trắng có chữ Thăng Long bên trong đều có chứa sợi thực vật màu nâu và xanh (mẫu A2); 01 túi nilon trong suốt có chứa chất dạng tinh thể trong suốt (mẫu A3). Thu trong ngăn tủ dưới của tủ đựng quần áo 01 túi nilon trong suốt có mép cài bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt (mẫu A4).

Bản kết luận giám định số 459/KLGĐ-PC09 ngày 23/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:

Mẫu gửi giám định thu tại túi quần bên trái phía trước của Tạ Duy H là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 137,4813 gam.

Mẫu A1 gửi giám định (thảo mộc màu xanh) là ma túy, loại Cần sa, có khối lượng 1,1714 gam.

Mẫu A2 gửi giám định (thảo mộc màu xanh) là ma túy, loại Cần sa, có khối lượng 0,5020 gam.

Mẫu A3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0770 gam.

Mẫu A4 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 3,9732 gam.

Ngoài ra khi tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo, Cơ quan điều tra phát hiện Lê Anh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: khu 5, đường HL, phường ĐH, quận HA, thành phố Hải Phòng có mặt tại nhà bị cáo và mang theo 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa thực vật màu xanh. T khai đấy là Cỏ Mỹ mang đi để sử dụng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Anh T không phát hiện thu giữ gì. Tiến hành giám định thực vật màu xanh ghi là ma túy thu giữ của T, Bản kết luận giám định số 463/KLGĐ-PC09 ngày 23/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định (thực vật màu xanh) là ma túy loại cần sa, khối lượng 2,0863 gam.

Quá trình điều tra bị cáo Tạ Duy H khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 21/12/2018 khi bị cáo đang ở nhà thì Th (tên thường gọi là Th “phán”) gọi điện thoại đến nói “Anh có rảnh không, sang KA lấy cho em ít ma túy mang về”, bị cáo hỏi “Sang đâu”, Th nói “sang T ở ngã năm KA”, H nói “không có tiền đi đường” Th nói “Tí có người cầm xuống”. Khoảng 13h cùng ngày tại khu vực trước cửa Chi nhánh Ngân hàng Đông Á, huyện TT, K đưa cho bị cáo số tiền 3.000.000 đồng và 01 cân điện tử. Đến khoảng 15h cùng ngày bị cáo đi xe khách đến khu vực ngã năm quận KA, thành phố Hải Phòng gặp T. T đưa cho bị cáo 01 túi nilon trong suốt in nhiều chữ “Đông Thành” màu đỏ bên trong có chứa ma túy để mang về giao cho Th “phán”. Ngoài ra T cho bị cáo một túi màu đen có chữ “VGOD” bên trong có 01 túi đựng ma túy dạng cỏ Mỹ và 2 điếu thuốc Thăng Long bên trong là ma túy dạng cỏ Mỹ về để sử dụng. Sau đó bị cáo về nhà để túi đựng ma túy T cho ở trên giường, còn số ma túy đá T đưa để giao cho Th „phán” bị cáo lấy ra một ít đựng vào 02 túi nilon cất ở nhà để sử dụng. Đến khoảng 19h cùng ngày khi bị cáo chuẩn bị đi giao ma túy cho Th “phán” thì Lê Anh T trú tại quận HA, thành phố Hải Phòng đi xe taxi đến chơi. Bị cáo nói với T “gọi gì ăn trước đi, anh đi đây tý”. Nói xong bị cáo điều khiển xe máy mượn của anh V đi đến xã TT giao ma túy cho Th “phán”. Khi đi đến khu vực thôn Ô T, xã TT thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ.

Bản cáo trạng số 19/CT-VKSTB ngày 14/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Tạ Duy H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Tạ Duy H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Duy H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Duy H 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tạ Duy H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Tạ Duy H phải chịu hình phạt chung của cả hai tội từ 24 năm đến 24 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2018.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng vụ án theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, sau khi phạm tội bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo có thời gian tham gia quân đội và sau khi chấp hành xong hình phạt tù của bản án trước, bị cáo về lao động tự do tại địa phương không có thu nhập ổn định để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Tạ Duy H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Vào khoảng 20 giờ ngày 21/12/2018 tại thôn N, xã TT, huyện TT, tỉnh Thái Bình bị cáo đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave α màu xanh mượn của anh Trần Bá V để vận chuyển trái phép 137,4813 gam Methamphetamine mục đích lấy công là ma túy về sử dụng. Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ 1,6764 gam Cần sa (dạng thực vật) và 4,0502 gam Methamphetamine tại nơi ở mục đích để sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét do Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình lập ngày 21/12/2018; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình; Kết luận giám định số 459/KLGĐ- PC09 ngày 23/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi của bị cáo Tạ Duy H vận chuyển 137,4813 gam Methamphetamine mục đích lấy công là ma túy về sử dụng đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự và hành vi bị cáo cất giữ 1,6764 gam Cần sa (dạng thực vật) và 4,0502 gam Methamphetamine (tổng tỷ lệ khối lượng hai chất ma túy là 81% dưới 100%) tại nơi ở mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định như sau:

Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy.

1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên

b) Heerroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng 100 gam trở lên.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi phạm tội của bị cáo Tạ Duy H là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm mất trật tự trị an xã hội, là nguồn gốc lây nhiễm căn bệnh HIV- AIDS, ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng và phát sinh những loại tội phạm khác, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, song bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện tu dưỡng đạo đức chấp hành pháp luật mà lại tiếp tục phạm tội mới nghiêm trọng hơn. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Tạ Duy H có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích, bị cáo tiếp tục phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “tái phạm nguy hiểm” đối với tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra cũng như xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có thời gian tham gia quân đội do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo phạm 02 tội danh nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội theo quy định của pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo mới được ra tù về địa phương lao động tự do không có thu nhập ổn định và việc bị cáo vận chuyển ma túy mục đích để lấy ma túy sử dụng cho bản thân không thu lợi nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy khối lượng Methamphetamine, Cần sa thu, cân điện tử, dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế và túi màu đen thu giữ của bị cáo. Chiếc điện thoại di động và chiếc camera không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo.

Trong vụ án này có Nguyễn Hữu Th, sinh năm 1989 trú tại thôn B Ô Tr, xã TT, huyện TT, tỉnh Thái Bình tên thường gọi là Th “phán” bị cáo khai đã thuê bị cáo vận chuyển ma túy đá từ khu vực ngã 5, quận KA, thành phố Hải Phòng về cho Th. Tại Cơ quan điều tra Th khai có quen biết bị cáo nhưng chưa bao giờ thuê bị cáo đi vận chuyển ma túy, Th không quen biết ai là K ở xã TL, huyện TT, tỉnh Thái Bình. Quá trình điều tra bị cáo khai không nhớ số điện thoại nào đã liên lạc với Th và K vào ngày 21/12/2018, bị cáo với Th trao đổi việc vận chuyển ma túy không ai biết. Cơ quan điều tra đã cho đối chất giữa Nguyễn Hữu Th và bị cáo nhưng bị cáo không làm việc. Ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ chứng minh Th thuê bị cáo vận chuyển trái phép chất ma túy vì vậy Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Hữu Th.

Người đàn ông tên K bị cáo khai đưa cho bị cáo 3.000.000 đồng và 01 cân điện tử theo yêu cầu của Th “phán”, Cơ quan điều tra đã trích xuất dữ liệu camera theo dõi của Ngân hàng Đông Á, Phòng giao dịch huyện TT nhưng không xác định được nội dung như bị cáo khai. Xác minh tại xã TL, huyện TT, tỉnh Thái Bình không xác định được người đàn ông tên K có đặc điểm như bị cáo đã khai nên không đủ căn cứ để điều tra xử lý.

Bị cáo khai không biết rõ họ tên, địa chỉ của người đàn ông tên T ở ngã 5, quận KA, thành phố Hải Phòng đưa ma túy cho bị cáo về giao cho Th “phán” nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

Anh Trần Bá V là người cho bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave α màu xanh, không có biển kiểm soát song khi cho bị cáo mượn xe anh V không biết mục đích của bị cáo đi vận chuyển ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh V là phù hợp.

Đối với Lê Anh T: Quá trình điều tra khám xét và thu giữ của Lê Anh T 01 gói thực vật màu xanh, kết quả giám định là Cần sa có khối lượng 2,0863 gam, do khối lượng chưa đủ để xử lý hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử phạt hành chính đối với Lê Anh T là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Tạ Duy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Duy H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Duy H 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tạ Duy H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

2.2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Duy H 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.3. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Tạ Duy H phải chịu hình phạt chung của cả hai tội là 23 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2018.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu hủy 141,4244 gam Methamphetamine; 1,3871 gam Cần sa đựng trong 05 phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn lại sau giám định; 01 dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 cân điện tử màu đen, 01 túi màu đen có chữ VGOD.

3.2. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và 01 camera màu trắng.

Số vật chứng có đặc điểm như trong trên biên bản giao nhận bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 15/5/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.

4. Án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Tạ Duy H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Tạ Duy H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ