- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HSST Ngày: 06/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Thế Chung– Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn thụ lý số: 54/2019/HSST ngày 22/02/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/HSST-QĐ ngày 25/02/2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L - sinh năm: 1983; giới tính: Nữ; nơi sinh: Đồng Tháp; ĐKHKTT: A, đường Phan Huy Í, khu phố 6, phường 12, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông: Nguyễn Văn T; Con bà: Quỳnh Thị T; Hoàn cảnh gia đình: có chồng tên Lý Ngọc Đ, có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại-(có mặt).
Người bị hại: Phạm Thu Ph , 1984
Trú tại: A, khu phố Bình Phước A, phường B, thị xã Thuận A, tỉnh Bình Dương – (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 04/12/2018, Nguyễn Thị L điều khiển xe mô tô biển số 59G2-051.07 đến tiệm bán quần áo tại địa chỉ 40/7A, Hà Thị Khiêm, tổ 28, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh do chị Phạm Thu Ph làm chủ để mua quần áo. L phát hiện 01 túi xách của chị Phạm Thị Hương để ở dưới kệ tủ bên trong tiệm quần áo, L nảy sinh ý định trộm cắp. Lợi dụng lúc không có người chú ý, L dùng tay trái lấy tiền trong bóp được 3.700.000 đồng bỏ vào túi quần cất giấu rồi để bóp vào khu vực bán quần áo nam và chuẩn bị tẩu thoát thì bị chị Ph và Hương phát hiện bắt giữ giao Công an phường xử lý. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án: Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 3.700.000 đồng đã trả cho người bị hại.
- Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS, ngày 19/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận hành vi lén lút lấy trộm 3.700.000 đồng trong túi xách của chị Phạm Thị Hương. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị tuyên phạt: bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L với mức án 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách nhất định.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo L không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật .
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Nguyễn Thị L có sức khỏe nhưng nảy sinh lòng tham, lợi dụng sự sơ hở về tài sản của chị Phạm Thị Hương để túi xách bên trong có 3.700.000 đồng ở dưới kệ tủ bên trong tiệm quần áo. L nảy sinh ý định trộm cắp, lợi dụng lúc không có người chú ý, L dùng tay trái lấy tiền bỏ vào túi quần cất giấu chuẩn bị tẩu thoát thì bị chị Ph và Hương phát hiện bắt giữ giao công an.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 3.700.000 đồng của người khác của Nguyễn Thị L đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị L là nguy hiểm, đã xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa Ph . Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, tài sản của người bị hại đã được thu hồi…để áp dụng các điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo L trong thời gian tại ngoại không có vi phạm gì, bị cáo hiện có công việc ổn định, đang nuôi con nhỏ. Bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở và hợp lý.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quâ ̣n 12; (02) - THADS Quâ ̣n 12; (02) - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01) - Công an Quâ ̣n 12; (02) - UBND nơi bị cáo cư trú; (01) - Bị cáo; (01) - Người tham gia tố tụng; (01) - Lưu hồ sơ vụ án. T 20/. (05) | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |