vanban.org

Bản án 26/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1] Tuyên bố bị cáo Tăng Thiên H phạm tội "Trộm cắp tài sản". [2] Xử phạt bị cáo Tăng Thiên H 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Tăng Thiên H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2019/HSST
Ngày: 28 - 02 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Quang Cảnh

2/ Bà Phạm Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân

quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên toà: Bà Phan Ngọc Minh – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 11/2019/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS ngày 15/02/2019 đối với bị cáo:

Tăng Thiên H; sinh năm: 1989, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Phụ bếp; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Gỏn K, sinh năm 1955 và bà Tăng Thiếu B, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” – Có mặt

Bị hại: Anh Bùi Thanh T, sinh năm: 1981; trú tại: phường P, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Phạm Hồng S, sinh năm 1993; trú tại: Phường K, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt

2/ Anh Trần Thái N, sinh năm 1971, trú tại: phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trang 1

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 28/6/2018, Tăng Thiên H phát hiện xe gắn máy hiệu Wave màu đen – bạc, biển số 59T1 – 829.12 của anh Bùi Thanh T để trong khu vực để xe của nhà trọ, không khóa cổ, không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. H đến gần dắt lùi xe ra ngoài nhà trọ. Do không có chìa khóa xe nên H dắt bộ đến tiệm làm chìa khóa của anh Trần Thái N tại phường A, quận B nhờ làm chìa khóa mới. Sau đó, H điều khiển xe đến tiệm game Phường N, Quận M chơi game thua hết số tiền 3.000.000 đồng nên H cầm chiếc xe gắn máy biển số 59T1 – 829.12 cho quản lý tiệm game là anh Phạm Hồng S được 5.000.000 đồng, anh S trừ 3.000.000 đồng tiền H chơi game và 500.000 đồng tiền lãi cầm xe, còn lại đưa cho H 1.500.000 đồng. Khoảng 19 giờ 30 phút, anh Bùi Thanh T phát hiện mất xe nên đã kiểm tra camera, phát hiện H lấy trộm xe của mình nên đến Công an phường trình báo. Tại cơ quan điều tra, Tăng Thiên H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 203/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 07/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Tân Phú thì chiếc xe gắn máy biển số 59T1 – 829.12 trị giá 14.000.000 đồng.

Vật chứng:

+ 01 xe gắn máy hiệu Wave màu đen – bạc, biển số 59T1 – 829.12, số khung 1219DY775359, số máy HC12E5775417. Qua xác minh, do anh Cao Tấn K đứng tên sở hữu. Ngày 17/01/2018, anh K đã ký hợp đồng số 001376 ủy quyền cho anh Hà Quang H được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt. Đến ngày 04/4/2018 anh H đã bán xe này cho anh Bùi Thanh T nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe trên cho anh T.

+ Số tiền 1.500.000 đồng là tiền Hùng có được sau khi cầm xe gắn máy biển số 59T1 – 829.12 cho anh Phạm Hồng S.

+ 01 áo thun màu đen, cổ áo màu đỏ có in chữ ROSA màu vàng, quần sooc Jeans màu xanh dương thu giữ của bị cáo Tăng Thiên H.

+ 01 chìa khóa xe gắn máy.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSQ.TP ngày 14 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Tăng Thiên H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Tăng Thiên H từ 09 (Chín) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

Trang 2

- Bị cáo Tăng Thiên H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm

sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 28/6/2018, H phát hiện xe gắn máy hiệu Wave màu đen – bạc, biển số 59T1 – 829.12 của anh Bùi Thanh T đang để trong khu vực để xe của nhà trọ không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. H dắt lùi xe ra khỏi phòng trọ. Do xe không có chìa khóa nên H dắt bộ đến tiệm sửa chìa khóa của anh Trần Thái N nhờ làm chìa khóa mới. Sau đó, H điều khiển xe đến tiệm game tại số Phường N, Quận M chơi game thua hết 3.000.000 đồng nên H cầm chiếc xe gắn máy biển số 59T1 – 829.12 cho quản lý tiệm game là anh Phạm Hồng S được 5.000.000 đồng, anh S trừ số tiền H nợ là 3.000.000 đồng và tiền lãi cầm xe là 500.000 đồng, H còn giữ số tiền 1.500.000 đồng. Anh T phát hiện mất xe nên đã kiểm tra Camera và phát hiện H đã lấy trộm xe nên đến Công an trình báo. Qua định giá chiếc xe gắn máy hiệu Wave màu đen – bạc, biển số 59T1 – 829.12 trị giá 14.000.000 đồng.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Tăng Thiên H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại, lén lút chiếm đoạt 01 xe gắn máy hiệu Wave, qua định giá có giá trị 14.000.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Tăng Thiên H theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội.

Trang 3

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, trong thời gian tại ngoại bị cáo không phạm tội khác nên xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo mà giao về chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ tác dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 xe gắn máy hiệu Wave màu đen bạc, biển số 59T1 – 829.12, số khung 1219DY775359, số máy HC12E5775417. Qua xác minh, do anh Cao Tấn K đứng tên sở hữu. Ngày 17/01/2018, anh K đã ký hợp đồng số 001376 ủy quyền cho anh Hà Quang H được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt. Đến ngày 04/4/2018 anh H đã bán xe này cho anh Bùi Thanh T nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe trên cho anh T. Anh T đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý phần trách nhiệm dân sự.

Về xử lý vật chứng:

- Số tiền 1.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Tăng Thiên H, đây là tiền bán tài sản do phạm tội mà có, tuy nhiên bị cáo đã hoàn trả cho anh Phạm Hồng S số tiền 5.000.000 đồng để chuộc xe và giao cho cơ quan điều tra trao trả cho người bị hại nên Hội đồng xét xử xét thấy trả cho bị cáo Tăng Thiên H số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.

- 01 áo thun màu đen, cổ áo màu đỏ có in chữ ROSA màu vàng, quần sooc Jeans màu xanh dương thu giữ của bị cáo Tăng Thiên H, tại phiên tòa hôm nay bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 chìa khóa xe máy do H nhờ thợ sửa khóa làm sau khi lấy trộm xe nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với anh Trần Thái N là người làm chìa khóa cho bị cáo Tăng Thiên H và anh Phạm Hồng S là người cầm chiếc xe gắn máy mang biển số 59T1 – 829.12, anh N và anh S không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đưa vào tố tụng xử lý là có cơ sở.

Án phí: Bị cáo Tăng Thiên H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Trang 4

- Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1] Tuyên bố bị cáo Tăng Thiên H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

[2] Xử phạt bị cáo Tăng Thiên H 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về xử lý vật chứng:

[- Trả cho bị cáo Tăng Thiên H số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) áo thu màu đen, cổ áo màu đỏ có in chữ ROSA màu vàng, quần sooc Jeans màu xanh dương và 01 (Một) chìa khóa xe máy.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 220/PNK ngày 05/7/2018 của Công an quận Tân Phú)

[5] Buộc bị cáo Tăng Thiên H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Bị cáo Tăng Thiên H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ