- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Võ Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HSST Ngày: 25/7/2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI-THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phƣơng Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Til.
2. Ông Phan Tấn Lạc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Minh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2019/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh K; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1955 (sống) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1958 (chết); Tiền sự: chưa; Tiền án: 02 lần. N ày 18 4 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm 04 thán tù iam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chấp hành xong hành phạt tù ngày 14/6/2014; Ngày 18/11/2015 bị Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và ngày 11/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm 06 thán tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 03 năm 06 thán tù, chấp hành xong hành phạt tù ngày 28/9/2018. Bị tạm giữ, tạm giam từ n ày 21 3 2019 cho đến nay. (Bị cáo có mặt)
2. Võ Văn T, sinh năm 1984; Tên ọi khác: T; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Khôn ; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Võ Văn S, sinh năm: 1965 sốn và bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1959 sống); Họ tên vợ: Trần Ngọc L, sinh năm: 1993; Có 01 n ười con sinh năm 2016; Tiền án: chưa; Tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ n ày 21 3 2019 cho đến nay. (Bị cáo có mặt)
Người bị hại:
1. Ngƣời bị hại 1. Có mặt.
2. Ngƣời bị hại 2. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vƣợng (VPB FC) Có đơn xin vắn mặt
Địa chỉ: Số 9, Đoàn Văn Bơ, Phườn 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: Anh NLC. Có mặt.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc D do lười lao độn nhưn muốn có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định giả hỏi mượn xe mô tô và mượn điện thoại di động của n ười khác để đi công chuyện và gọi điện cho n ười thân nhưn khi nhận được tài sản lại đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, thực hiện hành vi gian dối này D đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều n ười và đã ba lần bị kết án, chấp hành xong hình phạt tù lần sau cùng vào ngày 28/9/2018.
Sau khi chấp hành xong hình phạt tù Nguyễn Ngọc D không sửa chữa bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi gian dối như trước để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều n ười, ở nhiều nơi đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể từng vụ như sau:
- Vụ 1: Vào khoảng 10 giờ 00 ngày 17/3/2019 D gọi điện thoại rủ N ười bị hại 1 đến lộ tẻ thuộc khu phố 3, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh để uống cà phê, khoản 10 phút sau do có ý định chiếm đoạt xe của N ười bị hại 1 nên D giả hỏi mượn xe do N ười bị hại 1 điều khiển nhãn hiệu Honda Winner màu đen biển số 66F1-688.10 đi về nhà vợ tắm và rước vợ cùn đi chơi, H đồng ý và D nói dối điện thoại của mình hết pin nên hỏi N ười bị hại 1 mượn cái điện thoại di động hiệu Samsung A5 - 2017 với mục đích là sau đó N ười bị hại 1 không có liên lạc được với bất cứ ai, N ười bị hại 1 cũn đồng ý. Sau khi nhận được xe và điện thoại của N ười bị hại 1, D chạy xe về hướng thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồn Tháp; trên đườn đi D ghé vào tiệm điện thoại bán điện thoại di động hiệu Samsung A5-2017 của N ười bị hại 1 được 1.500.000 đồng và sau đó tháo biển số xe của N ười bị hại 1 bỏ bên đường rồi qua đò về Ô Môn. Do trước đó có quen biết và có nhờ bán xe nên D có điện thoại cho Võ Văn T sinh năm 1984 ở ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ để kêu T tìm n ười bán xe, T biết xe không giấy tờ là xe ian, nhưn vẫn kêu D chụp hình xe và gửi qua mạng Zalo cho T để tìm n ười bán, khi có hình chiếc xe T liên hệ với n ười tên Tài khôn rõ địa chỉ, lai lịch để bán xe, sau khi thỏa thuận Tài đồng ý mua xe với iá 14.000.000 đồng, T nói giá với D giá 13.000.000 đồng, D đồn ý bán, đến khoảng 13 giờ ngày 18/3/2019 T và D đem xe của N ười bị hại 1 lên lộ tẻ Bằn Tăn đườn vô Nôn Trường Sông Hậu để bán cho Tài, khi đến điểm hẹn Tài đưa cho T 14.000.000 đồng và lấy xe, T đưa cho D 13.000.000 đồng lời được 1.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 568 KL.HĐĐGTS n ày 21 5 2019 của Hội đồn định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, kết luận giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen biển số: 66F1-688.10 là 30.000.000 đồn và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A5-2017 là 3.500.000 đồng. Tổng cộn là 33.500.000 đồng. Hiện chiếc xe và điện thoại không thu hồi lại được, N ười bị hại 1 yêu cầu bồi thường giá trị theo kết luận định giá.
- Vụ 2: Do trước đó N uyễn Ngọc D có quen biết nên có xin số điện thoại của N ười bị hại 2, sinh năm 2001 n ụ ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ và biết N ười bị hại 2 có chiếc xe mô tô. Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 20/3/2019 D muốn chiếm đoạt xe của N ười bị hại 2 nên điện thoại rủ N ười bị hại 2 đi uống cà phê, D hẹn gặp tại quán Cây Mận ở xã Trường Xuân, N ười bị hại 2 đồn ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu trắng - đỏ - đen biển số: 65H1-288.91 cùng với cháu là NLC điều khiển xe mô tô Wave, cả hai chạy ra quán Cây Mận, N ười bị hại 2 chở D, NLC chạy một mình đến quán Thái An ở ấp Thới Phong A, thị trấn Thới Lai để uống cà phê, khoảng 30 phút sau D giả vờ hỏi N ười bị hại 2 mượn điện thoại để hẹn rước em gái đi ăn, N ười bị hại 2 đưa điện thoại di động hiệu ViVo 1610 – Y55S màu vàng loại hai sim cho D mượn. Sau khi N ười bị hại 2 cho D mượn điện thoại D giả nói chuyện với đầu dây bên kia nhưn thực chất là khôn có điện, rồi trả lại điện thoại cho N ười bị hại 2, D rủ tất cả đến quán cà phê Hoa Lá ở ấp Thới Thuận A, thị trấn Thới Lai để tiếp tục uống cà phê, lúc này khoảng 20 giờ D tiếp tục hỏi N ười bị hại 2 mượn điện thoại để liên lạc với em gái, với ý định sau khi chiếm đoạt tài sản của N ười bị hại 2 thì N ười bị hại 2 không có liên lạc được với ai kể cả khôn báo Côn an được ngay, N ười bị hại 2 đưa điện thoại cho D, D liền hỏi mượn xe của N ười bị hại 2 để rước em gái, N ười bị hại 2 đồn ý nhưng N ười bị hại 2 chạy xe để chở D. Do có ý định chiếm đoạt nên D nói để D chạy vì D biết nhà, N ười bị hại 2 đồng ý cho D chạy xe chở N ười bị hại 2, còn NLC thì chạy xe một mình theo sau. D chở N ười bị hại 2 qua cầu Kênh Đứng thuộc ấp Thới Hiệp A, thị trấn Thới Lai quẹo phải khoảng 50 mét thấy nhà một n ười lạ đón cửa D chỉ cho N ười bị hại 2 và nói nhà bà ngoại nơi em ái ở, D kêu N ười bị hại 2 xuốn xe cách đó khoản 20 mét để D quay xe lại một mình rước em gái sợ có N ười bị hại 2 bà ngoại sẽ la, N ười bị hại 2 tin lời xuống xe, D quay đầu xe lại và chạy rất nhanh qua cầu Kênh Đứng, biết bị lừa N ười làm chứng chở N ười bị hại 2 rượt đuổi theo nhưn khôn kịp nên đến trình báo cơ quan chức năn .
Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô và điện thoại di động của N ười bị hại 2, D định chạy lên thành phố Hồ Chí Minh nhưn hết tiền nên quay lại hướn Sa Đéc để về Ô Môn, trên đườn đi D gọi điện nhờ Võ Văn T bán chiếc xe Winner vừa chiếm đoạt của N ười bị hại 2, T hỏi có giấy tờ gì không, D nói không có xe lấy của n ười ta, T kêu D chụp hình xe gửi qua mạng Zalo cho T, sau đó D tháo biển số xe và bỏ cùn điện thoại của N ười bị hại 2 ở bên đường. Khi có hình ảnh chiếc xe T liên hệ với Tài và sáng ngày 21/3/2019 Tài nhắn tin cho T thống nhất giá mua xe là 14.500.000 đồng và hẹn đến trưa lấy xe, T báo cho D biết iá xe 12.500.000 đồng D đồng ý bán, sau khi thống nhất mua bán D đem xe về địa bàn quận Ô Môn để cùng T bán, khi đến điểm hẹn Tài đưa cho T số tiền 14.500.000 đồng và lấy xe, T đưa cho D 12.500.000 đồng, D có cho lại T 200.000 đồng tiền xăn , bán xe này T thu lợi được 2.200.000 đồn . Sau khi bán được xe D điện thoại cho bạn gái chạy xe mô tô của D mua trả óp đến và cùng với T vào uống cà phê tại quán Hoài Thu thuộc phườn Phước Thới, quận Ô Môn thì bị bắt.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 385A KL.HĐ-ĐG n ày 13 4 2019 của Hội đồn định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Thới Lai, kết luận giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu trắng - đỏ - đen biển số: 65H1-288.91 là 39.490.000 đồn và điện thoại di động hiệu ViVo 1610-Y55S là 3.990.000 đồng. Tổng cộng là 43.480.000. Hiện chiếc xe và điện thoại không thu hồi lại được, anh N ười bị hại 2 yêu cầu bồi thường giá trị theo kết luận định giá.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Ngọc D thừa nhận trước đó vào n ày 07 02 2019 tại quán cà phê Phươn Thùy đường Nguyễn Văn Cừ, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ có lừa đảo chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Exciter giá trị 31.500.000 đồn và điện thoại di động hiệu OPPO Neo5 của anh Huỳnh Văn Vũ ở ấp Trường Ninh 1, xã Trường Xuân A, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ và nhờ Võ Văn T bán xe cho n ười tên Thật được 13.000.000 đồn , nhưn T chỉ đưa cho D 12.000.000 đồng, T thu lợi 1.000.000 đồng. Hiện vụ án này Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã khởi tố điều tra xử lý đối với Nguyễn Ngọc D. Do hành vi tiêu thụ chiếc xe này thực hiện trên địa bàn huyện Thới Lai, nên cần phải tổng hợp để xử lý đối với Võ Văn T. N oài ra vào n ày 16 3 2019 trên đường Trần Đại N hĩa, thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Ngọc D có lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade không nhớ biển số xe và một điện thoại di động hiệu OPPO F7 màu xanh của một n ười quen tên Cậu khôn rõ địa chỉ lai lịch). Sau khi chiếm đoạt tài sản D bán điện thoại được 500.000 đồng và nhờ Võ Văn T bán dùm chiếc xe, nhưn n ười mua trả giá chỉ có 4.000.000 đồng nên D kêu T đem xe của T đi cầm 4.000.000 đồn để đưa cho D và T lấy xe Airblade sử dụng, T đồn ý đi cầm xe và đưa cho D 4.000.000 đồng, sau đó T bán chiếc xe Airblade này cho Tài được 5.600.000 đồng lời được 1.600.000 đồng. Hiện chưa xác định được bị hại nên chưa có cơ cở xử lý.
Trong khi bị bắt Cơ quan điều tra có thu giữ của Nguyễn Ngọc D gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu trắng, Model A1668,IC: 579C- E2946A; 01 điện thoại di động hiệu Coolpad E502 màu old vàn đồng) imei:-497261; 01 điện thoại di động hiệu Bontel màu cam, Model: L100, imei:-787222; Tiền Việt Nam 12.300.000 đồng; 01 chìa khóa 10; 01 xe mô tô biển số: 68G1-625.84, số máy: E3X9E-185359, số khung: RLCUE332HY403758 và một bộ giấy phô tô hồ sơ thế chấp vay để mua xe trả góp với Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng. Thu giữ của Võ Văn T gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, Model A1784, IC: 579C-E3092A; 01 xe mô tô biển số: 65P4-3858; tiền Việt Nam 2.800.000 đồn và ia đình của T nộp 3.000.000 đồng. Tất cả các vật chứng thu giữ nêu trên được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai chờ xử lý.
Tron quá trình điều tra Võ Văn T thừa nhận có quen biết với Nguyễn Ngọc D và có cho số điện thoại để liên lạc với nhau, Sau đó D có điện thoại nhờ bán xe, T có hỏi và được biết xe không có giấy tờ, giá rẻ hơn iá trị thực tế và D cũn có nói xe lấy của n ười khác, nên biết rõ đây là tài sản do phạm tội mà có nhưn cũn iới thiệu bán cho Thật một xe mô tô và bán cho Tài ba xe mô tô và thu lợi bất chính được tổng cộng là 5.800.000 đồng.
Đối với n ười tên Nguyễn Văn Thật sinh năm 1985 ở ấp Thạnh Hưn 2, xã Trun Hưn , huyện Cờ Đỏ có mua chiếc xe mô tô của T bán, xe này do D phạm tội trên địa bàn quận Ninh Kiều, nay không có mặt tại địa phươn khôn làm việc được nên chưa có cơ sở xử lý. Còn đối với tên Tài có mua xe ba xe mô tô do T bán, nhưn khôn rõ địa chỉ lai lịch không làm việc được nên cũn chưa có cơ sở xử lý.
Tại bản cáo trạng số 28 CT-VKS n ày 27/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai đã truy tố Nguyễn Ngọc D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, c, d khoản 2 Điều 174 và Võ Văn T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
N ười bị hại 1 yêu cầu nhận lại giá trị tài sản bị thiệt hại theo kết luận của Hội đồn định iá là 33.500.000 đồng; N ười bị hại 2 yêu cầu nhận lại giá trị tài sản bị thiệt hại theo kết luận của Hội đồn định iá là 43.480.000 đồng.
N ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượn VPB FC có đơn xin iải quyết vắn mặt và có yêu cầu nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA màu đen, số loại SIRIUS số khung: RLCUE322HY043758; số máy: E3X9E-185359, đã được cấp biển số 68G1-625.84 do Nguyễn Ngọc D thế chấp, đan bị thu giữ, để thanh toán nợ nếu Nguyễn Ngọc D không có khả năn thanh toán nợ.
Ý kiến của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa: Căn cứ vào các lời khai được thu thập hợp pháp tron quá trình điều tra cũn như lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, tang vật thu giữ đã đủ cơ sở truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b,c,d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo D với mức án từ 04 năm 06 thán đến 05 năm tù, xét hoàn cảnh ia đình bị cáo khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai hạ khung hình phạt, quyết định truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 thán tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụn Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu trắng, Model A1668,IC: 579C- E2946A thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh khôn liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưn tạm giữ để đảm bảo n hĩa vụ thi hành án;
- 01 điện thoại di động hiệu Coolpad E502 màu old vàn đồng) imei:-497261 thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh Nguyễn Ngọc D sử dụn để liên lạc với Võ Văn T nhờ T bán xe do thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có nên cần tịch thu sung công;
- 01 điện thoại di động hiệu Bontel màu cam, Model: L100, imei: 787222 thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh khôn liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưn tạm giữ để đảm bảo n hĩa vụ thi hành án;
- 01 chìa khóa 10 do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô biển số: 68G1-625.84, số máy: E3X9E-185359, số khung: RLCUE332HY403758 thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh khôn liên quan đến vụ án và là tài sản thế chấp đối với Hợp đồng thế chấp tài sản số 20181106-1976260 ngày 11/11/2018 của Nguyễn Ngọc D với Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPB FC), phía Công ty Tài chính VPB FC có yêu cầu nhận chiếc xe nêu trên do Nguyễn Ngọc D đã vi phạm n hĩa vụ thanh toán nên giao tài sản là 01 xe mô tô biển số: 68G1-625.84, số máy: E3X9E-185359, số khung: RLCUE332HY403758 cho Công ty Tài chính VPB FC để bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 20181106-1976260 ngày 11/11/2018;
- 01 bộ giấy phô tô hồ sơ thế chấp vay để mua xe trả góp của bị cáo Nguyễn Ngọc D không có giá trị sử dụn nên đề nghị tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, Model A1784, IC: 579C-E3092A thu của bị cáo Võ Văn T qua điều tra chứng minh Võ Văn T sử dụn để phạm tội nên tịch thu sung công;
- 01 xe mô tô biển số: 65P4-3858 thu của bị cáo Võ Văn T qua điều tra bị cáo dùng để trao đổi mua bán xe gian với D nên tịch thu sung công;
- Tiền Việt Nam 12.300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh là tiền bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu để trả lại cho N ười bị hại 2; Tiền Việt Nam 2.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Võ Văn T qua điều tra chứng minh do bị cáo phạm tội mà có và ia đình bị cáo tự nguyện nộp 3.000.000 đồng, tổng cộng 5.800.000 đồng, đây là tiền thu lợi bất chính nên đề nghị tịch thu sung công.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải bồi thường cho N ười bị hại 1 số tiền 33.500.000đồng; bồi thường cho N ười bị hại 2 số tiền 43.480.000đ – 12.300.000đ = 31.180.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tung: Tron quá trình điều tra và truy tố, cơ quan Côn an và Viện kiểm sát đã thực hiện đún quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các tình tiết như bản cáo trạn đã truy tố, phù hợp với lời khai của các bị hại, n ười có quyền lợi n hĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do có ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của n ười khác đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân từ trước nên Nguyễn Ngọc D đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều n ười, ở nhiều nơi đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đối với Võ Văn T biết rõ tài sản do Nguyễn Ngọc D phạm tội mà có nhưn nhiều lần giúp D bán tài sản để hưởng lợi.
Xét độn cơ của bị cáo Nguyễn Ngọc D là dùng những lời nói gian dối hỏi mượn xe đi côn chuyện và mượn điện thoại gọi cho n ười thân để chiếm đoạt nhiều xe mô tô và nhiều điện thoại di động của nhiều n ười, ở nhiều nơi có tổng giá trị tài sản là 76.980.000 đồn , để làm nguồn sống cho bản thân, thể hiện tính chất chuyên nghiệp, bản thân có nhiều tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích. Bị cáo Võ Văn T biết rõ xe mô tô D nhờ bán là do phạm tội mà có nhưn vì ham lợi nên đã iới thiệu cho n ười khác mua tài sản nhiều lần nhằm thu lợi bất chính tổng số tiền là 5.800.000 đồng. Những hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của n ười khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phươn , nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe, phòn n ừa tội phạm chung. Các bị cáo phải chịu chế tài hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự.
Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, c, d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự; bị cáo Võ Văn T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là phù hợp với hành vi các bị cáo thực hiện.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, vì thế Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T ia đình có công với cách mạn , là lao độn chính tron ia đình, vận độn ia đình khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc D là tái phạm nguy hiểm, vì thế Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết tăn nặn quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu trắng, Model A1668,IC: 579C- E2946A thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh khôn liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưn tạm giữ để đảm bảo n hĩa vụ thi hành án;
- 01 điện thoại di động hiệu Coolpad E502 màu old vàn đồng) imei:-497261 thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh Nguyễn Ngọc D sử dụn để liên lạc với Võ Văn T nhờ T bán xe do thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có nên cần tịch thu sung công;
- 01 điện thoại di động hiệu Bontel màu cam, Model: L100, imei: 787222 thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh khôn liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưn tạm giữ để đảm bảo n hĩa vụ thi hành án;
- 01 chìa khóa 10 do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô biển số: 68G1-625.84, số máy: E3X9E-185359, số khung: RLCUE332HY403758 thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh khôn liên quan đến vụ án và là tài sản thế chấp đối với Hợp đồng thế chấp tài sản số 20181106-1976260 ngày 11/11/2018 của Nguyễn Ngọc D với Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPB FC), phía Công ty Tài chính VPB FC có yêu cầu nhận chiếc xe nêu trên do Nguyễn Ngọc D đã vi phạm n hĩa vụ thanh toán nên giao tài sản là: 01 xe mô tô biển số: 68G1-625.84, số máy: E3X9E-185359, số khung: RLCUE332HY403758 cho Công ty Tài chính VPB FC để bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 20181106-1976260 ngày 11/11/2018;
- 01 bộ giấy phô tô hồ sơ thế chấp vay để mua xe trả góp của bị cáo Nguyễn Ngọc D không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, Model A1784, IC: 579C-E3092A thu của bị cáo Võ Văn T qua điều tra chứn minh Võ Văn T sử dụn để phạm tội nên tịch thu sung công;
- 01 xe mô tô biển số: 65P4-3858 thu của bị cáo Võ Văn T qua điều tra bị cáo dùng để trao đổi mua bán xe gian với bị cáo D nên tịch thu sung công.
- Tiền Việt Nam 12.300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh là tiền bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu để trả lại cho N ười bị hại 2; Tiền Việt Nam 2.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Võ Văn T qua điều tra chứng minh do bị cáo phạm tội mà có và ia đình bị cáo tự nguyện nộp 3.000.000 đồng, tổng cộng 5.800.000 đồng, đây là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung công.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải bồi thường cho N ười bị hại 1 số tiền 33.500.000đồng; Bồi thường cho N ười bị hại 2 số tiền 43.480.000đ – 12.300.000đ = 31.180.000 đồng.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 n ày 30 thán 12 năm 2016. Bị cáo D còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.849.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Võ Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Điểm b, c, d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Ngọc D 04 (Bốn năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 21/3/2019.
Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn T 01 (Một năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 21/3/2019.
Về xử lý vật chứng: áp dụn Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu trắng, Model A1668,IC: 579C- E2946A thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh khôn liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưn tạm giữ để đảm bảo n hĩa vụ thi hành án;
- 01 điện thoại di động hiệu Coolpad E502 màu old vàn đồng) imei:-497261 thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh Nguyễn Ngọc D sử dụn để liên lạc với Võ Văn T nhờ T bán xe do thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có nên tịch thu sung công;
- 01 điện thoại di động hiệu Bontel màu cam, Model: L100, imei: 787222 thu giữ của Nguyễn Ngọc D qua điều tra chứng minh khôn liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưn tạm giữ để đảm bảo n hĩa vụ thi hành án;
- 01 chìa khóa 10 do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- Giao 01 xe mô tô biển số: 68G1-625.84, số máy: E3X9E-185359, số khung: RLCUE332HY403758 thu giữ của Nguyễn Ngọc D cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPB FC) để bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 20181106-1976260 ngày 11/11/2018;
- 01 bộ giấy phô tô hồ sơ thế chấp vay để mua xe trả góp của bị cáo Nguyễn Ngọc D không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, Model A1784, IC: 579C-E3092A thu của bị cáo Võ Văn T qua điều tra chứn minh Võ Văn T sử dụn để phạm tội nên tịch thu sung công;
- 01 xe mô tô biển số: 65P4-3858 thu của bị cáo Võ Văn T qua điều tra bị cáo dùng để trao đổi mua bán xe gian với bị cáo D nên tịch thu sung công.
- Tịch thu số tiền 12.300.000 đồng của bị cáo Nguyễn Ngọc D để trả lại cho N ười bị hại 2. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, N ười bị hại 2 có quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai để nhận lại số tiền 12.300.000 đồng.
- Tịch thu số tiền 2.800.000 đồng của bị cáo Võ Văn T và 3.000.000 đồng do gia đình bị cáo T nộp, tổng cộn 5.800.000 đồng, đây là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung công.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải bồi thường cho N ười bị hại 1 số tiền 33.500.000đồng; bồi thường cho N ười bị hại 2 số tiền 31.180.000 đồng.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 n ày 30 thán 12 năm 2016. Bị cáo D còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.849.000 đồng.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo, đươn sự có mặt có quyền kháng cáo. Đối với đươn sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phươn .
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, n ười phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND TPCT; - VKS huyện; - THA huyện; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phƣơng Anh |