vanban.org

Bản án 26/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 28/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Sách T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Sách T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt người đang bị truy nã là ngày 18/12/2018. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Dương Sách T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Sách T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KHOÁI CHÂU
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--***---
Bản án số: 26/2019/HSST
Ngày: 28/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

W phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tân.

* Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Xuân Hòa

- Bà Đặng Thị Thêm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu: Bà Đặng Thị Huệ-KSV.

* Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu.

Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2019, theo quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2019/HSST-QĐ ngày 19/3/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Sách T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988;

HKTT và chỗ ở: thôn X, xã D, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Fộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Dương Sách Đ, sinh năm 1956; Con bà: Hoàng Thị C, sinh năm 1960; Bị cáo có 03 anh chị em bị cáo là thứ ba; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Nhân thân: Ngày 30/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 23/8/2017.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên (có mặt tại phiên tòa).

*/Người Bị hại: Công ty tài chính Home Credit Việt Nam;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đình T, sinh năm 1975

Địa chỉ: Nhà 104, B1D, tập thể Bắc Thành Công, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.(vắng mặt)

*/Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.(vắng mặt)

Ông Dương Sách Đ, sinh năm 1957.(vắng mặt)

Anh Dương Sách U, sinh năm 1984.(có mặt)

Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1968.(vắng mặt)

Đều trú tại: Thôn X, xã D, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Chị Lê Thị O, sinh năm 1984.(vắng mặt)

Trú tại: Thôn C, xã Â, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Người làm chứng:

1/Anh Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1992;

Trú tại: Trại giam Hoàng Tiến, tổng cục VIII- Bộ Công an, thôn Trại Trống, xã Hoàng Tiến, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

2/ Anh Nguyễn Văn W, sinh năm 1982; Trú tại: Thôn V, xã R, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong năm 2015, hàng ngày Nguyễn Ngọc G thường sử dụng xe mô tô của bố là ông Nguyễn Văn A sinh năm 1968 ở thôn X, xã D, huyện Ân Thi để chở Dương Sách T cùng đến Trung tâm y tế huyện Khoái Châu uống thuốc methadone để cai nghiện ma túy nên T biết trong cốp xe mô tô của ông A có giấy phép lái xe và chứng minh nhân dân mang tên ông A. Do vậy, ngày 08/3/2015 khi đi qua cửa hàng điện thoại I ở thôn Y, xã F, huyện Khoái Châu, T đã nảy sinh ý định mượn giấy tờ nói trên của ông A để làm thủ tục mua điện thoại trả góp sau đó mang bán đi để lấy tiền tiêu xài. Sáng ngày 09/3/2015, T gặp và hỏiG để mượn giấy phép lái xe và chứng minh nhân dân của ông A để làm thủ tục mua điện thoại trả góp thìG đồng ý. Sau đó T và G đến Trung tâm y tế huyện Khoái Châu để uống thuốc methadone thì gặp Nguyễn Văn W sinh năm 1982 ở thôn V, xã R. T thấy W nhiều tuổi và có khuôn mặt giống với ảnh của ông A nên đã nhờ W đến cửa hàng điện thoại chụp ảnh thì W đồng ý. Sau đó T,G và W cùng đi đến cửa hàng điện thoại I. Tại đây W được nhân viên cửa hàng chụp ảnh để T làm thủ tục mua một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia trị giá 4.450.000 đồng. T trả trước cho nhân viên bán hàng 1.200.000 đồng. Sau đó, T dùng giấy tờ mang tên ông Nguyễn Văn A đến gặp chị Lê Thị O sinh năm 1984 ở thôn Q, xã Â là nhân viên của công ty Home Credit Việt Nam làm hợp đồng vay số tiền 3.356.000 đồng để mua điện thoại trả góp và mua bảo hiểm. Chị O kiểm tra chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên ông A xác định là giấy tờ thật nhưng không đối chiếu ảnh trên giấy tờ với khuôn mặt của T và W nên đã đồng ý làm hợp đồng số 3536797044 cho khách hàng mang tên ông Nguyễn Văn A. T là người cung cấp các thông tin trong hợp đồng và trực tiếp ký tên Nguyễn Văn A vào trong hợp đồng, còn W sau khi được chụp ảnh xong thì ra ngoài chờ T. Sau khi mua được điện thoại T,G chở W về nhà ở thôn V, xã R, còn T và G quay về thị trấn Khoái Châu, T mang bán chiếc điện thoại vừa mua được hơn 3.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân hết.

Do T không thực hiện việc trả tiền cho công ty Home Credit Việt Nam, đại diện công ty đã làm việc với ông A thì được biết T đã dùng chứng minh nhân dân của ông A để ký hợp đồng vay tiền như nêu ở trên nên đã làm đơn gửi Cơ quan điều tra Công an huyện Khoái Châu tố cáo hành vi của T.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Dương Sách T đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu ở trên. Tuy nhiên sau đó T bỏ trốn nên Cơ quan điều tra Công an huyện Khoái Châu đã ra quyết định truy nã đối với T. Ngày 18/12/2018, T bị bắt theo quyết định truy nã, Cơ quan điều tra thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 5; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia; 01 ví giả da; 01 đồng hồ nhãn hiệu Longies.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Khoái Châu đã ra quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên giám định chữ ký, chữ viết trên bản hợp đồng số 3536797044 đề ngày 09/3/2015 nói trên mang tên người vay là ông Nguyễn Văn A. Ngày 25/12/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chữ viết và chữ ký trên 07 tờ giấy là mẫu vật cần giám định đề tên Nguyễn Văn A so với chữ viết trên mẫu so sánh đề tên Dương Sách T là do cùng một người viết ra.

Quá trình điều tra, bị cáo đã W khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS-KC, ngày 17 tháng 02 năm 2019 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố bị cáo Dương Sách T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Dương Sách T có mặt và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như tại cơ quan điều tra và xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét các tài sản mà cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 5; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia; 01 ví giả da; 01 đồng hồ nhãn hiệu Longies, và 700.000 đồng đây là những tài sản của bị cáo và bị cáo sử dụng vào mục đích liên lạc sinh hoạt hằng ngày không liên quan đến việc thực hiện hành vi, vi phạm pháp luật đề nghị cho bị cáo được xin lại.

Tại phiên tòa hôm nay người bị hại là Công ty tài chính Home Credit Việt Nam đại diện theo ủy quyền là ông Vũ Đình T vắng mặt, trong quá trình điều tra ông khai nhận gia đình bị cáo T đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị cáo (thanh toán hợp đồng số 3536797044 ngày 09/3/2015 do T giả mạo chữ ký của ông Nguyễn Văn A để ký kết hợp đồng vay tiền mua điện thoại trả góp) cho Công ty tài chính Home Credit Việt Nam và Công ty không có yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Sách Đ, ông Nguyễn Văn A, chị Lê Thị O vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên trong quá trình điều tra những người này đã có lời khai đầy đủ thể hiện quan điểm rõ ràng, không đề nghị gì về phần trách nhiệm dân sự.

Anh Dương Sách U có mặt khai nhận anh là anh trai bị cáo T, khi T bị bắt T có nhắn cho anh trai T đứng ra thanh toán với Công ty tài chính Home Credit Việt Nam thay T và anh đã thanh toán toàn bộ các khoản tiền mà T đã ký hợp đồng trả góp với công ty tài chính Home Credit Việt Nam, việc anh thanh toán tiền là hoàn toàn tự nguyện vì là anh em ruột nên anh không yêu cầu T phải có trách nhiệm trả lại anh số tiền trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo: Dương Sách T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng theo khoản 1 Điều 174; các điểm b, s, Khoản 1, Điều 51, Khoản 1 Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Dương Sách T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: trả lại cho bị cáo các tài sản gồm:01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 5; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia; 01 ví giả da; 01 đồng hồ nhãn hiệu Longies.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở xem xét đầy đủ chứng cứ, tài liệu điều tra đã được thẩm tra công khai, kết quả tranh luận, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên toà.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Khoái Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và đã có đủ cơ sở kết luận:

Sáng ngày 09/3/2015, tại cửa hàng điện thoại I ở thôn Y, xã F, huyện Khoái Châu, Dương Sách T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là sử dụng giấy tờ giả mang tên ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1968 trú tại thôn X, xã D, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên để ký hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp với Công ty tài chính Home Credit Việt Nam, nhằm chiếm đoạt của công ty số tiền là 3.356.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu W tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo T đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị là 3.356.000 đồng, hành vi của bị cáo thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu truy tố bị cáo Dương Sách T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh ở địa phương, gây tâm lý hoang mang cho mọi người, chỉ vì mục đích cần tiền để tiêu sài cá nhân mà bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nhằm răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định một hình phạt phù hợp với bị cáo:

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Nhân thân của bị cáo: Ngày 30/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 9 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo W khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải, do đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong quá trình điều tra bị cáo đã nhờ anh trai là Dương Sách U bồi thường cho Công ty tài chính Home Credit Việt Nam số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị hại là Công ty tài chính Home Credit Việt Nam xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Nghề nghiệp chính của bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, không ổn định, bản thân nghiện ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với bị hại là Công ty tài chính Home Credit Việt Nam có đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đình T vắng mặt, trong quá trình điều tra gia đình bị cáo T đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị cáo (thanh toán hợp đồng số 3536797044 ngày 09/3/2015 do T giả mạo chữ ký của ông Nguyễn Văn A để ký kết hợp đồng vay tiền mua điện thoại trả góp) cho Công ty tài chính Home Credit Việt Nam và Công ty không có yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì.Do vậy, mà Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Dương Sách Đ, anh Dương Sách U, ông Nguyễn Văn A, chị Lê Thị O vắng mặt tuy nhiên trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ không đề nghị gì về phần bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Dương Sách U (anh trai của bị cáo T) đã bỏ ra số tiền để khắc phục phục hậu quả cho bị cáo (thanh toán hợp đồng số 3536797044 ngày 09/3/2015 cho Công ty tài chính Home Credit Việt Nam, tại phiên tòa hôm nay anh không có yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm thanh toán số tiền này cho anh nên không phải giải quyết.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị O vắng mặt tại phiên tòa hôm nay tuy nhiên trong quá trình điều tra xác định chị O là cẩu thả nên đã làm hợp đồng cho T mang tên ông A vay tiền như nêu ở trên. Hơn nữa chị O, cũng không được chia trong số tiền mà T đã chiếm đoạt. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Khoái Châu không xem xét, xử lý đối với chị Lê Thị O nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn W và Nguyễn Ngọc G tuy có giúp T trong việc làm thủ tục vay tiền nhưng không biết là T sẽ chiếm đoạt số tiền vay. Hơn nữa anh W vàG cũng không được chia trong số tiền mà T đã chiếm đoạt. Do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Khoái Châu không xem xét, xử lý đối với anh Nguyễn Văn W và Nguyễn Ngọc G, Viện kiểm sát không truy tố, nên nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo T là số tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 5; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia; 01 ví giả da; 01 đồng hồ nhãn hiệu Longies và số tiền 700.000 đồng. Đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, bị cáo chỉ sử vào mục đích liên lạc, sinh hoạt hằng ngày, không liên quan đến hành vi, vi phạm pháp luật nên áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; các điểmb, s, Khoản 1, Điều 51,Điều 52, Khoản 1 Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, khoản 3, Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Dương Sách T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Sách T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt người đang bị truy nã là ngày 18/12/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo Dương Sách T các tài sản gồm:01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 5; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia; 01 ví giả da; 01 đồng hồ nhãn hiệu Longies và số tiền 700.000 đ (bẩy trăm nghìn đồng).

(Tình trạng vật chứng như Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKS-KC ngày 18/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, số tiền đang có trong tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khoái Châu, mở tại kho bạc nhà nước huyện Khoái Châu).

Về án phí: Bị cáo Dương Sách T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, có mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh U, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho bị cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết nơi người vắng mặt cư trú./.

Cỡ chữ