vanban.org

Bản án 26/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Bùi T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Bùi T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 26/2019/HS-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 26/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Chí Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Tiến.

2. Bà Chung Kim Sang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ưng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Lập – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2019. Tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2019/HSST ngày 14/01/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi T – Sinh năm: 1986, tại Rạch Giá – Kiên Giang. Nơi ĐKTT: Số 66/6 đường Vàm Trư, khu phố Nam Cao, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: Khu dân cư thu nhập thấp, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Hiền và bà Hứa Thị Kiều; Vợ Nguyễn Thị Ngọc Bích; Con: 02 ngườ i, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền sự: Chưa.

Tiền án: Ngày 02/4/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 02/01/2017, chấp hành án xong, (chưa được xóa án tích).

Ngày 26/10/2018, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị bắt quả tang và bị tạm giữ. Ngày 01/11/2018, bị tạm giam theo lệnh số 134 của cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Rạch Giá.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Phan Văn Thắng – Sinh năm: 1975 (vắng mặt)

Trú tại: Nhà cho thuê số 200 đường Võ Trường Toản, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

* Người làm chứng:

Ông Hứa Thanh Điền – Sinh năm: 2001 (vắng mặt)

Trú tại: Số 27/6/13 đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

* Người chứng kiến:

1/- Ông Mai Quốc Khánh – Sinh năm: 1974 (vắng mặt)

Trú tại: Số 200B đường Võ Trường Toản, phường Vĩnh Quang, thành phố Ra ̣ch Giá, tỉnh Kiên Giang.

3/- Ông Nguyễn Trường Thành – Sinh năm: 1988 (vắng mặt)

Trú tại: Số 200 đường Võ Trường Toản, phường Vĩnh Quang, thành phố Ra ̣ch Giá, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 26/10/2018, sau khi uống rượu say, Bùi T nghi ngờ vợ mình tên Nguyễn Thị Ngoc Bích (sinh năm 1980) có mối quan hệ bất chính với người đàn ông tên Danh Hiền ở nhà trọ đường Tú Xương (không nhớ số nhà trọ), phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá nên Bùi T gặp và nhờ bạn tên Hứa Thanh Điền chở đi tìm Danh Hiền để đánh ghen. Khi đi Bùi T có để trong người 01 cây dao thái lan cán vàng dài 21,3cm. Khi đến khu nhà trọ của Hiền thì không gặp Hiền nên Bùi T nhờ Điền chở đến nhà trọ số 200, đường Võ Trường Toản, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá để tiếp tục tìm Hiền. Đến nơi, Điền đậu xe bên ngoài chờ, còn T đi vào trong tìm nhưng không thấy Hiền. Lúc này, T phát hiện trước phòng trọ số 02 có đậu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 68S7-5755 của anh Phan Văn Thắng (sinh năm 1975) nên T nảy sinh ý định lấy trộm xe này. Quan sát xung quanh không có ai nên T liền dắt chiếc xe biển số 68S7-5755 đi ra đầu hẻm và nhờ Điền dùng xe đẩy đi về hướng đường Võ Trường Toản (lúc này Điền không biết T lấy trộm xe của người khác). Khi Điền chạy xe Wave, màu xanh dùng chân đẩy xe do T trộm của anh Thắng đến trước nhà số 186 Võ Trường Toản, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá thì bị anh Thắng cùng các anh Nguyễn Trường Thành và Mai Quốc Khánh đuổi theo bắt quả tang cùng vật chứng. Đến ngày 01/11/2018, Bùi T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và tạm giam cho đến nay.

* Việc thu giữ đồ vật, tài liệu:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 68S7-5755, màu nho, số khung: V5DCCD125A006235, số máy: 1P50FMG3, đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 68HB-7529, số khung: VDGZS139FMB, số máy: 009733, đã qua sử dụng.

- 01 (một) cây dao thái lan cán vàng dài 21,3 cm.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 231/KL-TCKH, ngày 01/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá, kết luận giá trị còn lại của 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số: 68S7-5755 vào ngày 26/10/2018 như sau:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 68S7-5755, màu nho, số khung: V5ADCCD125A006235, số máy: 1P50FMG3, đã qua sử dụng, có giá trị còn lại là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả cho người bị hại anh Phan Văn Thắng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 68S7-5755 và trả cho anh Hứa Thanh Điền 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 68HB-7529.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao thái lan cán vàng dài 21,3cm, theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSTPRG, ngày 14/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

* Về phần dân sự: Người bị hại anh Phan Văn Thắng đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Bùi T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Bùi T phạm tội “trộm cắp tài sản”

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự để tuyên phạt bị cáo Bùi T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai tại cơ quan Điều tra, lời trình bày của người bị hại, người làm chứng và những tang vật thu được. Từ đó khẳng định: Vào khoảng 20 giờ ngày 26/10/2018 Bùi T đi đến nhà trọ số 200 đường Võ Trường Toản, P. Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá để tìm người tên Danh Hiền nhưng không gặp. Tại đây Bùi T lén lút lấy trộm 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Dream, biển số 68S7-5755 của anh Phan Văn Thắng đang đậu trước phòng trọ số 02. Trong lúc Bùi T nhờ bạn là Hứa Thanh Điền đẩy xe đi đến trước nhà số 186 đưỡng Võ Trường Toản thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Sau đó bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Rạch khởi tố và bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như truy tố của viện kiểm sát thành phố Rạch Giá là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: Tội trộm cắp tài sản.

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã lợi dụng lúc chủ sở hữu mất cảnh giác để lén lút lấy trộm tài sản nhằm thỏa mãn lòng tham và nhu cầu tiêu xài cá nhân mà không muốn bỏ công sức lao động để làm ra. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất và mức độ của bị cáo gây ra nhằm giáo dục cải tạo bị cáo, có ý thức tuân thủ pháp luật, biết tôn trọng và bảo vệ tài sản của người khác, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người dân lương thiện, có ích cho xã hội cũng nhằm để răn đe phòng ngừa giáo dục chung là cần thiết.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả cho người bị hại anh Phan Văn Thắng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 68S7-5755 và trả cho anh Hứa Thanh Điền 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 68HB-7529.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao thái lan cán vàng dài 21,3cm, theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSTPRG, ngày 14/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

Về phần dân sự: Người bị hại anh Phan Văn Thắng đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường gì khác.

Về án phí: buộc bị cáo Bùi T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) là phù hợp với Điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: bị cáo Bùi T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

- Xử phạt: Bị cáo Bùi T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2018.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao thái lan cán vàng dài 21,3cm, theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSTPRG, ngày 14/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

* Về án phí: Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo Bùi T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Báo cho bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 26/02/2019, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ