- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Tuấn H, phạm tội: “Giết người”. - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H, phạm tội: “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 591 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HS-ST Ngày: 16 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Bùi Xuân Liêm
Th m phán: Ông Nguyễn Hữu Thịnh
Các Hội th m nhân dân: Ông Trần Thanh Trung, ông Trần Công Nho, ông Trần Thanh Liên
- Th
phi n t a: Bà Trần Thị Khánh Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phi n t a: Bà Đoàn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình Tuấn H (tên gọi khác: Đ); sinh ngày 01 tháng 7 năm 1994, tại huyện Duy X, Quảng Nam; nơi cư trú: Tổ 6, thị trấn H, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình T (sinh năm 1960) và mẹ Nguyễn Thị H (sinh năm 1966); bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 27/3/2017, Nguyễn Đình Tuấn H bị đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 07/QĐ-TA ngày 08/5/2017 của TAND huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, thời hạn 15 tháng. Ngày 14/3/2018, H chấp hành xong theo Quyết định số 33/QĐ-TA ngày 09/3/2018 của TAND huyện Hiệp Đức về việc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý còn lại.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/10/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; có mặt.
- Ng ời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H: Ông Bùi Bá D – Luật sư của Văn phòng Luật sư Hoàng H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Nam, địa chỉ: 43 Nguyễn Thái H, thành phố K, tỉnh Quảng Nam; bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Có mặt.
- Ng ời đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn X: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 33 Trần P, thị trấn H , huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam (anh ruột bị hại). Có mặt.
- Ng ời làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Ni, sinh năm 1977; vắng mặt.
2/ Bà Phan Thị D, sinh năm 1976; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ 6, thị trấn H, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/8/2018, Nguyễn Đình Tuấn H trên đường đi làm về ngang qua nhà ông Nguyễn Ni (sinh năm 1977; trú tại Tổ 6, thị trấn H, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam) thì ông Nguyễn Văn X (tên gọi khác: L, sinh năm 1975, trú cùng tổ) lúc này đang ở nhà ông Ni nhìn thấy nên rủ H đi mua “mồi” (tức thức ăn) về nhà ông Ni để nhậu. H đồng ý nên đến chợ H mua 20.000 đồng lòng bò về nhà ông Ni xào để làm “mồi”, còn ông X đi mua khoảng 02 (hai) lít rượu gạo về đổ vào ca nhựa. Sau khi mua thức ăn và rượu về, H cùng ông X ngồi nhậu tại hiên bên phải nhà ông Ni. Trước đó khoảng một tuần, ông Ni do bị tai nạn giao thông gãy chân nên không nhậu cùng mà nằm trên giường xếp bên trong phòng khách.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, trong lúc uống rượu thì giữa H và ông X xảy ra mâu thuẫn do H uống để dư một ít rượu còn lại trong ly nên ông X nói: “Mi uống chi lạ rứa”; H trả lời: “Chú uống được chừng mô uống đi, con chiều đi làm, con mệt quá”. Ông X nói lại H: “Mi uống chi lạ rứa, phánh, phánh, phánh”. H mới hỏi lại ông X là uống nữa hay không để H đổ số rượu còn lại, ông X trả lời: “Không” nên H đổ số rượu còn lại xuống nền đất. Lúc này, bà Phan Thị D (sinh năm 1976, vợ ông Ni) đang ở trong nhà nghe thấy vậy nên đi ra nói với ông X và H: “Nhậu thì nhậu cho đàng hoàng, nhậu mà cãi lộn thì đi về đi” rồi bà D đi vào nhà. Ông Ni nằm trên giường xếp tại phòng khách cũng đứng dậy chống 2 cây nạng gỗ đi ra ngoài hiên nói: “Uống được uống, không uống được thì về còn không thì ra ngoài đường” rồi ông Ni ngồi xuống hiên nhà phía bên trái. Sau khi nghe ông Ni và bà D nói vậy thì H đứng dậy lấy xe đi ra cổng.
Khi H đi xe ra cổng thì dựng xe lại rồi quay vào chỗ ông Ni để xin thuốc lá hút, lúc này ông X đang ngồi chỗ nhậu vẫn tiếp tục chửi thề với H: “Đ. mẹ mi, Đ. mẹ mi”. Nghe vậy, H bực tức, trong khi đã uống rượu nên không kiềm chế được, H lấy cây nạng gỗ của ông Ni đang để bên cạnh chân trái của ông Ni đi đến chỗ ông X. Ông Ni sợ H đánh ông X nên gọi vợ mình là bà D đang ngủ trong phòng “D ơi”. Lúc này, ông X đang ở tư thế ngồi xổm, mặt quay ra ngoài đường. H đi đến đứng đối diện với ông X đang ngồi, cách khoảng 1,5m, tay phải cầm phần đuôi cây nạng gỗ (phần chống xuống đất) giơ lên cao đánh mạnh một cái. Theo phản xạ ông X đưa tay lên đỡ thì đầu nạng trúng vào tay trái và phần đầu bên trái của ông X làm cây nạng gỗ bị gãy thành bốn đoạn. H thấy đầu bên trái của ông X chảy máu nên không đánh nữa mà vứt cây nạng xuống hiên nhà ông Ni. Bà D liền chạy ra, thấy ông X bị thương nên nói H: “Con đánh chú L chi ác kinh rứa Đ” thì H im lặng rồi ra lấy xe máy bỏ đi mua thuốc lá hút. Bà D dùng bông băng sơ cứu vết thương cho ông X, rồi nói con gái mình là Nguyễn Phan Yến N (sinh năm 2009) chạy đến nhà bà Trương Thị Yến Li (sinh năm 1971, trú cùng Tổ 6 là chị dâu của ông X) báo về việc ông X bị thương và nói bà Li đến đưa ông Xí đi cấp cứu. Khi đến nhà ông Ni, thấy ông X bị thương chảy máu nhiều nên bà Li bảo ông X đi cấp cứu nhưng ông X không đồng ý mà đi bộ về nhà.
Khoảng 05 phút sau, H quay lại nhà ông Ni thì gặp ông X đang đi bộ ngoài đường để về nhà và biết ông X bị thương do mình đánh nên H đã nhờ ông Đỗ Văn H (sinh năm 1972; trú cùng Tổ 6) cùng mình đưa ông X đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Thăng B. Đến 18 giờ cùng ngày ông X được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam để điều trị. Ngày 19/8/2018, do thấy tình trạng thương tích của ông X nặng nên gia đình đã chuyển ông X đến Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng để tiếp tục điều trị, đến ngày 04/9/2018 ông X tử vong.
Trong thời gian ông X điều trị tại bệnh viện thì H cùng mẹ mình là bà Nguyễn Thị H và gia đình ông X lo chữa trị và nuôi ông X cho đến khi ông X mất. (Các bút lục 08- 24, 33-61, 68-95,127-138, 147-157, 195-202, 231,232)
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 230/GĐPY-PC09 ngày 17/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam đã kết luận: “ Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1975, trú tại: Tổ 6, thị trấn H, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam, chết ngày 04/9/2018 là do chấn thương sọ não kín, vỡ nứt xương thái dương trái, tụ máu dưới màng cứng, dập não xuất huyết, phù não, suy hô hấp, suy tuần hoàn không hồi phục”. (Bút lục 33-35)
Tại Công văn số 225/PC09 ngày 05/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam đã xác định cơ chế hình thành vết thương vùng trán - đỉnh bên trái của ông Nguyễn Văn X như sau: “Vết thương vùng trán - đỉnh bên trái là do vật tày có cạnh gây nên; lực tác động mạnh theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải”. (Bút lục 161)
Vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh Quảng Nam tạm giữ 01 (một) cây nạng gỗ (bị gãy làm bốn đoạn) có dạng chữ A dài 1,21m, trọng lượng 0,6kg; đầu chống dạng hình tròn, đường kính 02cm; đầu đỡ dạng hình thang, cạnh trên dài 19cm, rộng 2,5cm, cạnh dưới dài 14cm, rộng 3cm, cao 3,2cm.(Bút lục 15)
Về phần dân sự: Ông Nguyễn Văn N là người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại yêu cầu bị can Nguyễn Đình Tuấn H bồi thường tổng số tiền là 130.100.000 (một trăm ba mươi triệu một trăm nghìn) đồng, trong đó gồm tiền dịch vụ tang lễ: 21.100.000 đồng, tiền làm mồ mả 22.000.000 đồng, tiền viện phí điều trị ở bệnh viện 12.500.000 đồng, tiền công của người nuôi bệnh 4.500.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 70.000.000 đồng). Gia đình bị cáo đã chủ động bồi thường số tiền 30.100.000 (ba mươi triệu một trăm nghìn) đồng. (Bút lục 195-204)
Đến ngày 08/10/2018, Nguyễn Đình Tuấn H bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam bắt tạm giam để điều tra. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình Tuấn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Bản cáo trạng số: 37/CT-VKS-P2 ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H về tội “Giết người” theo điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên Cáo trạng về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H 16 đến 18 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 591 BLDS 2015 đề nghị bị can Nguyễn Đình Tuấn H tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Văn X số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
- Về vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 và Điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cây nạng gỗ (bị gãy làm bốn đoạn) có dạng chữ A dài 1,21m, trọng lượng 0,6kg; đầu chống dạng hình tròn, đường kính 02cm; đầu đỡ dạng hình thang, cạnh trên dài 19cm, rộng 2,5cm, cạnh dưới dài 14cm, rộng 3cm, cao 3,2cm là hung khí mà bị can Nguyễn Đình Tuấn H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội hiện đã hết giá trị sử dụng và ông Ni không yêu cầu bồi thường.
Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Mối quan hệ của bị cáo H và người bị hại là hàng xóm, thường xuyên uống rượu chung, chưa từng xảy ra mâu thuẫn. Do tức giận và có uống rượu nên bị cáo mới đánh người bị hại, ý chí của bị cáo không muốn tước đoạt sinh mạng của người bị hại vì bị cáo không cố ý đánh vào đầu người bị hại mà do tư thế của bị cáo và bị hại lúc đó bị cáo đánh từ trên xuống trúng đầu bị hại. Nên hành vi của bị cáo không có “tính chất côn đồ” như cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu. Sau khi đánh người bị hại xong bị cáo bỏ đi, nhưng sau đó có quay lại chở bị hại đi cấp cứu và lo tiền thuốc men cho bị hại. Người bị hại được điều trị từ ngày 18/8/2018 đến ngày 04/9/2018 thì mới tử vong, nhưng quá trình điều tra không thành lập Hội đồng y khoa để xem xét quá trình điều trị và nguyên nhân cái chết của bị hại, vì có thể do quá trình cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện chứ không hoàn toàn là do hành vi của bị cáo gây nên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết, tính chất vụ án và hành vi của bị cáo để xét xử bị cáo Huy phạm tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật hình sự hay là tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người” theo khoản 5 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không tranh luận, xin lỗi gia đình bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận, đề nghị xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Nam, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 18/8/2018, tại nhà ông Nguyễn Ni thuộc Tổ 6, thị trấn H, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam, trong lúc ngồi uống rượu giữa Nguyễn Văn X và Nguyễn Đình Tuấn H xảy ra mâu thuẫn, ông X chửi thề với H. Trong lúc tức giận và có uống rượu trước đó nên H đã dùng cây nạng gỗ của ông Ni đánh một nhát mạnh từ trên xuống, trúng vào tay và đầu của ông X. Sau đó, bị cáo cùng ông Đỗ Văn H đưa ông X đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Thăng B sau đó chuyển viện đến Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam và Đà Nẵng nhưng do chấn thương nặng nên điều trị đến ngày 04/9/2018 thì ông X tử vong.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với kết luận giám định pháp y về nguyên nhân chết người, kết quả khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác do cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo H và bị hại là những người hàng xóm, bạn nhậu của nhau, nhưng do bực tức về việc bị hại Nguyễn X đã có lời lẽ chửi bới, sẳn có men rượu nên bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H cầm cây nạng gỗ, đi đến đứng đối diện với ông X đang ngồi, cách khoảng 1,5m, tay phải cầm phần đuôi cây nạng gỗ (phần chống xuống đất) giơ lên cao đánh mạnh phần đầu nạng theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải trúng vào tay và vùng đầu ông X làm ông í bị chấn thương sọ não kín, vỡ nứt xương thái dương trái và chuyển đến bệnh viện điều trị hơn nửa tháng sau thì ông X chết vào ngày 04/9/2018. Xét thấy, ý chí của bị cáo là không muốn tướt đoạt sinh mạng của người bị hại, bị cáo không cố ý đánh vào đầu người bị hại, tuy nhiên hành vi dùng cây nạng tấn công mạnh từ trên xuống vào trúng vùng đầu là nơi trọng yếu trên cơ thể bị hại một cách dứt khoát, bất chấp hậu quả và sau đó bị hại đã bị chấn thương sọ não điều trị một thời gian rồi chết nên hành vi và hậu quả do bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H gây ra đối với bị hại nêu trên đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 SĐBS năm 2017, cáo trạng truy tố bị cáo tội giết người là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ, mà do ông X nhiều lần chửi bị cáo trong lúc uống rượu nên làm cho bị cáo tức giận, một phần do uống rượu quá nhiều nên bị cáo không làm chủ được nên có hành vi đánh ông X bằng cây nạng của ông Ni. Viện kiểm sát tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo theo điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 “có tính chất côn đồ” là không phù hợp với tình tiết vụ án.
[4] Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm. Bởi, tính mạng, quyền sống của con người được pháp luật ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác; nhưng do mâu thuẫn cá nhân tức thời, thiếu kiềm chế, bị cáo đã đánh trúng vào vùng nguy hiểm và dẫn đến bị hại Nguyễn Văn X chết là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[5] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo lần đầu phạm tội, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đưa ông X đi cấp cứu và chăm sóc ông X trong thời gian nằm điều trị tại bệnh viện, bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại với số tiền là 30.100.000 đồng; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 như đề nghị của Kiểm sát viên khi xem xét quyết định hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn X yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền thiệt hại về tính mạng tổng số tiền 130.100.000 đồng, trong đó gồm tiền dịch vụ tang lễ: 21.100.000 đồng, tiền làm mồ mả 22.000.000 đồng, tiền viện phí điều trị ở bệnh viện 12.500.000 đồng, tiền công của người nuôi bệnh 4.500.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 70.000.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 30.100.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường 100.000.000 đồng.
Xét thấy, các khoản tiền yêu cầu bồi thường do tính mạng bị xâm phạm gồm chi phí mai táng, chi phí điều trị và tiền công nuôi người bệnh với tổng số tiền là 60.100.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với yêu cầu bồi thường số tiền tổn thất tinh thần 70.000.000 đồng, nhưng người bị hại không có người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bị hại không trực tiếp nuôi dưỡng ai và không ai trực tiếp nuôi dưỡng người bị hại do đó căn cứ khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015 HĐXX không có cơ sở chấp nhận số tiền này. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 30.100.000 đồng, yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 30.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng: Xét 01 (một) cây nạng gỗ (bị gãy làm bốn đoạn) có dạng chữ A dài 1,21m, trọng lượng 0,6kg; đầu chống dạng hình tròn, đường kính 02cm; đầu đỡ dạng hình thang, cạnh trên dài 19cm, rộng 2,5cm, cạnh dưới dài 14cm, rộng 3cm, cao 3,2cm hung khí bị cáo H tự ý lấy dùng làm vật gây án và đã hết giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H, phạm tội: “Giết người”.
Áp dụng khoản 2 Điều 123; các điểm điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H 10 (Mười) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 08/10/2018).
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584; Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại về tính mạng cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn X (Ông Nguyễn Văn N) số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn X, có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên, bị cáo còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử l vật chứng: Áp dụng 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cây nạng gỗ (bị gãy làm bốn đoạn) có dạng chữ A dài 1,21m, trọng lượng 0,6kg; đầu chống dạng hình tròn, đường kính 02cm; đầu đỡ dạng hình thang, cạnh trên dài 19cm, rộng 2,5cm, cạnh dưới dài 14cm, rộng 3cm, cao 3,2cm của ông Nguyễn Ni,
(Vật chứng này hiện được lưu giữ, quản lý tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2019 - BL 220).
4. Về án phí: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Nguyễn Đình Tuấn H phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, các đại diện hợp pháp của bị hại có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Phòng HSNV Sở tư pháp Q Nam; - Phòng PV 27 CA Q.Nam; - Cục THADS tỉnh Quảng Nam; - Trạm giam CA tỉnh Quảng Nam; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Liêm |