vanban.org

Bản án 26/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 06/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Trần H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2019/HS-ST
Ngày: 06/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Hùng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Chi

Ông Ngô Văn Sỹ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2019/TLST - HS ngày 31 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần H - sinh ngày: 22/9/1993 tại TP Đà Nẵng. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 11, phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Tổ x, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần V (chết) và bà Võ Thị G, sinh năm 1965; Vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1995; Con Trần Quốc H, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/11/2018, hiện có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Ông Hoàng Thanh L - sinh năm 1991. Địa chỉ: K x Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Công D - sinh năm 1997. Địa chỉ: K y Tôn Đức Thắng, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hoàng Thị Thanh L - sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu vực x, thị trấn Phú

Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

+ Bà Lương Thị Khánh T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn P, xã Hành Thiện, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

+ Bà Lê Thị P, sinh năm 1957. Địa chỉ: x Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

+ Ông Đặng Văn P, sinh năm 1981. Địa chỉ: x Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h00 ngày 28/11/2018, do cần tiền tiêu xài nên Trần H đi bộ trên đường Phạm Như Xương tìm xe mô tô sơ hở để trộm cắp. Khi H đi đến số nhà K81/52, Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh Nam thì phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Wave ZX màu đỏ, biển số 75H8-99xx (xe này của chị Hoàng Thị Thanh L, giao do anh L sử dụng làm phương tiện đi lại) anh L dựng xe trước phòng trọ, không có người trông coi và gắn sẵn chìa khóa trên xe, nên H đi vào dắt xe ra và nổ máy xe chạy đi tìm địa điểm để tiêu thụ. Trên đường đi tìm nơi tiêu thụ xe thì bị tổ tuần tra Công an phường Hòa Khánh Nam phát hiện và đưa về trụ sở làm việc. Qua đấu tranh, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và giao nộp xe mô tô cho Công an phường Hòa Khánh Nam. Theo Kết luận số: 142/KL-HĐĐG, ngày 30/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu, kết luận xe mô tô hiệu Wave ZX màu đỏ, biển số: 75H8-9972 đã qua sử dụng, có giá trị là: 5.400.000đồng.

Ngoài ra H còn khai nhận, vào sáng ngày 28/11/2018, H trộm một chiếc xe mô tô hiệu Wave Lifan màu xanh, biển số: 76B1-196.50 của anh Nguyễn Công D tại địa chỉ K543/H40/31 Tôn Đức Thắng, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Giá xe mô tô nêu trên là: 1.470.000đồng.

Vật chứng tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu Wave Lifan màu xanh, biển số: 76B1-196.50; 01 xe mô tô hiệu Wave ZX màu đỏ, biển số: 75H8-9972.

Ngày 02/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu ra Quyết định xử lý vật chứng số: 16/CSĐT, trả lại tài sản cho chủ sở hữu 02 xe mô tô.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Công D và Hoàng Thanh L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

* Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS, ngày 31/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Trần H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng số 20/CT-VKS, ngày 31/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Trần H từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đã giải quyết xong nên Viện kiểm không có ý kiến.

* Quá trình điều tra, bị can Trần H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo H có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại

phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12h00, ngày 28/11/2018 Trần H đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ BKS 75H8-99xx của anh L tại kiệt K81/3 Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, giá trị tài sản bị cáo Trần H chiếm đoạt của anh L là 5.400.000đ. Hnh vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản cáo trạng số 20/KSĐT, ngày 31/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản đã một mình cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với hành vi của bị cáo gây ra. Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng ham chơi, lười lao động, trộm cắp tài sản để thỏa mãn tiêu xài cá nhân. Hnh vi của bị cáo gây ra ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự và tâm lý bất an cho người dân địa phương. Điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do đó, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trong; giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại không lớn; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét mức hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã có quyết định xử lý vật chứng trả lại 02 xe mô cho chủ sở hữu là có căn cứ, nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo Trần H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ngoài ra H còn khai nhận vào sáng ngày 28/11/2018, H trộm một chiếc xe mô tô hiệu Wave Lifan màu xanh, biển số: 76B1-196.50 của anh D, tại địa chỉ K543/H40/31 Tôn Đức Thắng, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên hành vi trộm cắp xe mô tô nêu trên của bị cáo H, theo kết quả định giá, xe mô tô hiệu Wave Lifan màu xanh, biển số: 76B1-196.50 có giá trị 1.470.000đồng là chưa đủ cấu thành cơ bản tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với lần trộm cắp này là có căn cứ, nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2018.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) trích sao bản án.

Cỡ chữ