- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HS-PT Ngày: 22/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và ông Nguyễn Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nin- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiển - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 21/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáoNguyễn Văn Ldo có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2019/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn L (tên gọi khác: Lén),sinh năm 1995; tại tỉnh Phú Yên; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 26/08/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/01/2018; nhân thân: Ngày 23/3/2014 bị Công an xã H xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành nộp phạt ngày 20/10/2016; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờngày 12/7/2018, Nguyễn Quốc K rủ Nguyễn Văn L đi bắt trộm gà bán lấy tiền tiêu xài, L đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 13/7/2018 K điều khiển xe mô tô biển số 78AD-028.68 chởL mang theo kìm đến nhà bà Lương Thị N, ở thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. K đứng ngoài cảnh giới, L dùng kìm cắt hàng rào lưới B40 vào nhà bà Nbắt trộm 01 con gà cồ nòi và 02 con gà mái nòi, mỗi con nặng khoảng 1,5kg;trị giá 600.000 đồng, đem đến Chợ thành phố Tuy Hòa bán cho một người phụ nữ không rõ tên, tuổi, địa chỉ được 550.000 đồng, chia cho L 150.000 đồng, số tiền còn lại K tiêu xài cá nhân.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện P đã tuyên Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụngđiểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt:Nguyễn Văn L - 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Quốc K tham gia “Trộm cắp tài sản” với Nguyễn Văn L, nhưng tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng, K chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật Hình sự, nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với K.
Ngày 30/01/2019 và 01/02/2019, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Bị cáo Nguyễn Văn L đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản”, nhưng chưa được xóa án tích, lại tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 03 con gà trị giá 600.000 đồng của bà Lương Thị N. Nên cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.
Mặc dù tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị 600.000 đồng, chưa đến mức khởi điểm của cấu thành tội phạm, là thuộc trường hợp “Gây thiệt hại không lớn”; nhưng khi quyết định hình phạt, án sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là thiếu sót. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, liên tục vi phạm pháp luật đều về hành vi chiếm đoạt tài sản, nhưng không tích cực sửa chữa lỗi lầm, lại tiếp tục phạm tội. Nên khi lượng hình, án sơ thẩm đã xem xét nhân thân và đánh giá đúng tính chất của vụ án, để phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo.
Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩmtheo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L- 06 (sáu)tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND huyện P; - VKSND tỉnh Phú Yên; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Yên; - PV 27; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Lưu án văn; lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH PHÚ YÊNĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc Vào hồi 08 giờ 30phút ngày 22tháng 5 năm 2019. Tại phòng nghị án - Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng; Các thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và Nguyễn Việt Hùng. 14 tháng 3 năm 2019đối với bị cáo: ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; với mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Căn cứ vào Điều 299, 326, 354 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN HÌNH SỰ NHƯ SAU: 1. Về tội danh: “Trộm cắp tài sản” phán. Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về Điều luật áp dụng: năm 2015. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểmb, h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. quyết: 3/3. 3. Về quyết định hình phạt: sơ thẩm; hành án. quyết: 3/3. 4. Về các vấn đề khác: phí hình sự phúc thẩm. hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. quyết: 3/3 viên Hội đồng xét xử cùng nghe, nhận đúng, ký tên. Các thẩm phán | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Nguyên Tùng BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số21/2019/TLPT-HS ngày Nguyễn Văn L(tên gọi khác: Lén),sinh năm 1995; tại tỉnh Phú Yên; nơi đăng Đã bị Tòa án nhân dân huyện Pxử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh * Các Thẩm phán cùng thống nhất ý kiến: Bị cáo Nguyễn Văn Luânphạm tội * Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa (CTPT) thống nhất ý kiến của 02 thẩm * Các thẩm phán cùng thống nhất ý kiến: Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự * Thẩm phán CTPT thống nhất ý kiến của 02 Thẩm phán. Kết quả biểu * Các Thẩm phán ý kiến: Không chấp nhận kháng cáo - Giữ nguyên bản án Phạt:Bị cáo Nguyễn Văn L-06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi * Thẩm phán CTPT thống nhất ý kiến của 02 Thẩm phán. Kết quả biểu * Các Thẩm phán ý kiến: Bị cáo Nguyễn Văn Lphải chịu 200.000 đồng án Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có * Thẩm phán CTPT thống nhất ý kiến của 02 Thẩm phán. Kết quả biểu Biên bản kết thúc lúc 08giờ 45 phút cùng ngày, đã đọc lại cho các thành Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |