- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H và đồng bọn phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 1…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc H và bị cáo Lê Thanh T; S a bản án số 13/2019/HS-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lương S, tỉnh Hòa B cải biện pháp chấp Hnh hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật hình sự x t x các
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26 /2019/HS-PT Ngày: 16/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- THnh phần Hội Đ xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Oanh
Các thẩm phán: Ông Bùi Văn Dum
Bà Nguyễn Thị Dụ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa B tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019 tại trụ s tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình x t x phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 35/2019/TLPT-PT ngày 04/6/2019 đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lương S, tỉnh Hòa B.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 22/6/2002 tại Lương S - Hòa B
Nơi cư trú: Tiểu khu 2, thị trấn Lương S, huyện Lương S, tỉnh Hòa B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 09/12; tôn giáo: không.
Con ông: Nguyễn Mạnh H1; con bà Vũ Thị H2; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Ngọc H: Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1979 (mẹ đẻ bị cáo). Có mặt
2. Lê Thanh T, sinh ngày 26/12/2003 tại Lương S - Hòa B.
Nơi cư trú: Tiểu khu 9, thị trấn Lương S, huyện Lương S, tỉnh Hòa B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:9/12; dân dộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Con ông: Lê Thanh L; con bà Bùi Thị H3; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Thanh T: Bà Bùi Thị H3, sinh năm 1979 (mẹ đẻ bị cáo). Có mặt
Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị:
Bị cáo Bùi Nhật D; Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Nhật D: ông Bùi Văn Phương, sinh năm 1982 ( bố đẻ bị cáo).
Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo:
Anh Nguyễn Văn Đ; sinh năm 2001; Người đại diện hợp pháp của anh Đ: ông Nguyễn Văn Đại (bố đẻ anh Đ).Trú tại: Xã Nhuận Trạch, huyện Lương S, tỉnh Hòa B. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:
Anh Trấn Tuấn K; đại diện hợp pháp của anh K: ông Trần Quốc Hiệu, sinh năm 1970.
(Bị cáo, người liên quan không kháng cáo Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 07/4/2018 Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T, Trần Tuấn K và Bùi Nhật D rủ nhau xuống khu phố chợ Lương S thuộc xóm Mỏ, thị trấn Lường Sơn, huyện Lương S, tỉnh Hòa B chơi. Bốn người vào quán nước gần siêu thị Lương S ngồi uống nước, đến khoảng 20 giờ 30 phút thì D và K rủ nhau dùng xe máy đi vòng quanh khu phố chợ, còn H và T đi bộ sang khu vui chơi giải trí. D và K đi đến gần khu vực đài phun nước, thì K nhìn thấy Nguyễn Văn Đ cùng hai người bạn là Nguyễn Thanh Tuân và Nguyễn Đức Chính đang chơi đó. Vì trước đó khoảng 01 tháng K và T trong quá trình đi chơi tại xã Nhuận Trạch bị Đ chặn và dọa đánh, nên K và D đã ra nói với T là Đ đang chơi đài phun nước. Sau khi nghe K nói thì cả 04 người đi về phía Đ, đến nơi Đ đứng đối diện với T, K đứng trên tHnh bể của đài phun nước, T và D đứng hai bên phải và bên trái Đ, Đ đứng giữa còn T, H, D và K đứng xung quanh. Vì Đ nghĩ sẽ bị T, H, D, K đánh nên khi T hỏi Đ lý do tại sao hôm trước định đánh T và K thì Đ nói là “Muốn đánh nhau thì hẹn hôm khác”. Nghe Đ nói, T lao vào dùng tay đánh vào người Đ, Đ dùng tay trái đánh lại T. Khi thấy T bị Đ dùng tay đánh lại nên D lao vào dùng tay đánh 02 cái vào vùng mặt của của Đ, còn K đứng trên tHnh bể dùng chân đá vào người Đ nhưng không trúng, lợi dụng lúc Đ đang bị D đánh thì T dùng chân đạp vào mạn sườn bên trái của Đ làm Đ ngã dập đầu xuống phía bên phải vào cột đèn chiếu sáng và ngã xuống nền cỏ. Nhưng Đ vẫn đứng dậy và lao vào đánh lại T, trong lúc T và Đ đánh nhau thì H đi lấy 01 đoạn gậy tre khô dài khoảng 1,7m, đường kính 04cm, dùng tay trái cầm và đánh vào đầu bên phải của Đ làm Đ ngã ra nền cỏ gần cột đèn điện. Khi Đ ngã xuống T và K nhảy vào dùng chân đá vào phần chân của Đ. Sau đó, khi thấy Đ co giật thì cả bốn lấy xe mô tô ra về. Đến ngày 16, 17/8/2018 Bùi Nhật D, Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T đến công an huyện Lương S đầu thú và khai nhận toàn bộ Hnh vi đã thực hiện.
Tại bản giám định pháp y ngày 28/5/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa B kết luận thương tích của anh Nguyễn Văn Đ có tủ lệ tổn thương cơ thể là 52%.
Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của các bị cáo và đại diện người bị hại đã thỏa thuận và gia đình các bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền gia đình bị hại yêu cầu, phía gia đình người bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại bản án số 13/2019/HS-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lương S, tỉnh Hòa B đã x t x quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T, Bùi Nhật D phạm tội: Cố ý gây thương tích.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. X phạt Nguyễn Ngọc H 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi Hnh án.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b. S khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. X phạt Lê Thanh T 25 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi Hnh án.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b. S khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 54; Điều 58; Điều 91 Bộ luật hình sự. X phạt Bùi Nhật D 24 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian th thách là 48 tháng tháng tính từ ngày tuyên án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về x lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 03/5/2019 bị cáo Nguyễn Ngọc H và bị cáo Lê Thanh T kháng cáo xin xem x t các tình tiết giảm nhẹ chưa được áp dụng và xin hư ng mức án cải tạo không giam giữ.
Ngày 11/7/2019 bị cáo Nguyễn Ngọc H và bị cáo Lê Thanh T có đơn thay đổi kháng cáo: xin được hư ng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo H, T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hư ng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa B tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn nên chấp nhận xem xét đơn kháng cáo của các bị cáo. Về nội dung tòa án cấp sơ thẩm x t x các bị cáo tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điều 134 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên khi phạm tội và tính đến thời điểm x t x sơ, phúc thẩm các bị cáo đều là người chưa tHnh niên dưới 16 tuổi nên nhận thức, hiểu biết về pháp luật còn chưa đầy đủ ; bị cáo Nguyễn Ngọc H và Lê Thanh T có nhân thân tốt là học sinh ; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Việc cấp sơ thẩm tuyên phạt tù giam đối với bị cáo H, bị cáo T là có phần nghiêm khắc chưa bảo đảm nguyên tắc x lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đại diện VKSND tỉnh đề nghị áp dụng điểm b điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cải biện pháp chấp Hnh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ x t x nhận định như sau:
Về tố tụng: trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố, x t x vụ án này các cơ quan và người tiến Hnh tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi x t x sơ thẩm và trong thời hạn luật định các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T có kháng cáo hợp lệ được chấp nhận.
Về nội dung: Khoảng 20 giờ ngày 07/4/2018 Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T, Trần Tuấn K và Bùi Nhật D đi chơi phố chợ Lương S, khi D và K nhìn thấy Nguyễn Văn Đ cùng bạn; K và D ra nói với T là Đ đang chơi đài phun nước, vì trước đó T và Đ đã có mâu thuẫn. Khi nghe K nói vậy thì cả bốn người đi về phía Đ; đến nơi Đ đứng đối diện với T, K đứng trên tHnh bể của đài phun nước, T và D đứng hai bên phải và bên trái Đ, Đ đứng giữa còn T, H, D và K đứng xung quanh. Sau khi có nói qua lại với nhau vài câu thì T lao vào đánh vào người Đ, Đ dùng tay đánh lại T; khi thấy T bị Đ đánh nên D lao vào dùng tay đánh 02 cái vào vùng mặt của Đ, còn K đứng trên tHnh vể dùng chân đá vào người Đông nhưng không trúng, lợi dụng lúc Đ đang bị D đánh thì T dùng chân đạp vào mạn sườn bên trái của Đ làm Đ ngã dập phần đầu xuống phía bên phải vào cột đèn chiếu sáng và ngã xuống nền cỏ. Nhưng Đ vẫn đứng dậy lao vào đánh lại T, trong lúc này H đi lấy 01 đoạn gậy tre khô dài khoảng 1,7m, đường kính 04cm, dùng tay trái cầm và đánh vào đầu bên phải của Đ làm Đ ngã ra nền cỏ gần cột đèn điện. Khi Đ ngã xuống T và K nhảy vào dùng chân đá vào phần chân của Đ. Sau đó, thấy Đ co giật thì cả 4 lấy xe ra về. Anh Đ sau đó được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, kết luận giám định bị tổn hại 52% sức khỏe.
Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T khai nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng bị thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra thu thập, xác minh có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức biết việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật, bị nH nước cấm. Song vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống các bị cáo không kìm chế bản thân đã thực hiện Hnh vi đánh anh Nguyễn Văn Đ dẫn tới bị tổn hại 52% sức khỏe. Hnh vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của anh Đ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự x t x các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T về tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
X t kháng các xin được hư ng án treo của các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T Hội Đ x t x phúc thẩm nhận thấy:
Đối với Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T: quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm các bị cáo tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Đ, anh Đ không có ý kiến khiếu nại gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho 2 bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm gia đình bị hại xin cho hai bị cáo được hư ng án treo; chị Hạnh mẹ đẻ bị cáo H xuất trình thêm chứng cứ bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng. Mẹ đẻ bị cáo T, chị Hòa xuất trình tài liệu ông nội bị cáo T là người có công với cách mạng. Khi phạm tội và tính đến thời điểm x t x các bị cáo chưa đủ 16 tuổi nên nhận thức pháp luật còn chưa đầy đủ, các bị cáo phạm tội là do bột phát; cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định. Mục đích x lý đối với người chưa tHnh niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ s a chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, tr tHnh công dân có ích cho xã hội.Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết. Do đó Hội Đ x t x phúc thẩm x t thấy có căn cứ, đủ điều kiện để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo cải biện pháp chấp Hnh hình phạt bảo đảm nguyên tắc x lý đối với người chưa tHnh niên phạm tội.
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc H và bị cáo Lê Thanh T; S a bản án số 13/2019/HS-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lương S, tỉnh Hòa B cải biện pháp chấp Hnh hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Lê Thanh T phạm tội: Cố ý gây thương tích.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. X phạt Nguyễn Ngọc H 36 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian th thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. X phạt Lê Thanh T 25 tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc H và bị cáo Lê Thanh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Lương S, huyện Lương S, tỉnh Hòa B giám sát, giáo dục trong thời gian th thách.
Trường hợp bị cáo Nguyến Ngọc H và bị cáo Lê Thanh T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi Hnh án hình sự.
Trong thời gian th thách nếu người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần tr lên theo quy định của pháp luật về thi Hnh án hình sự thì Tòa án có thể buộc người được hư ng án treo phải chấp Hnh hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.
Bị cáo Nguyễn Ngọc H và bị cáo Lê Thanh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 Đ án phí hình sự sơ thẩm, không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/8/2019.
Nơi nhận:
TM. HỘI Đ XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND cấp cao;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND cấp cao;
- VKSND tỉnh Hòa B;
- TAND huyện Lương S tỉnh Hòa B;
- Cục THADS tỉnh Hòa B;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu VP, hồ sơ.
Trần Thị Oanh
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND cấp cao; - VKSND tỉnh Hòa B; - TAND huyện Lương S tỉnh Hòa B; - Cục THADS tỉnh Hòa B; - Người tham gia tố tụng; - Lưu VP, hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI Đ XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị oanh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA |