vanban.org

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Tr được ly hôn anh Cao Đức Th.

Về con chung: Giao con chung Cao Thị Ngọc Tr, sinh ngày 27/7/2009 cho anh Cao Đức Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Giao con chung Cao Đức Minh Th, sinh ngày 15/11/2016 cho chị Trần Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh Th, chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn sơ thẩm số 26/2019/HNGĐ-ST giữa chị Trần Thị Tr và anh Cao Đức Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Tr được ly hôn anh Cao Đức Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:26 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2019
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Lộc và ông Hoàng Minh Phương.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Quảng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn châu, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2019/QĐST – HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tr, sinh năm 1989. Có mặt

Nơi đăng ký HKTT: khối 3, thị trấn D, huyện D, Nghệ An.

Hiện trú tại: xóm Y, xã DN, huyện D, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Cao Đức Th, sinh năm 1975. Vắng mặt.

Hiện trú tại: khối 3, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 3 năm 2019 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Tr trình bày: Chị và anh Cao Đức Th kết hôn với nhau ngày 28/02/2008. Hôn nhân có tìm hiểu, tự nguyện hợp pháp. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đầm ấm một thời gian ngắn thì anh Th nghiện ngập các tệ nạn xã hội và phải đi chấp hành án 7 năm tù, sau khi anh Th ra tù vẫn không chịu thay đổi, vẫn nghiện ngập các tệ nạn xã hội nên vợ chồng sống không có hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Chị có trao đổi để anh Th từ bỏ nhưng vẫn không có kết quả mà ngày càng trầm trọng thêm. Anh Th vi phạm và phải đi chấp hành án nhiều lần, cuộc sống không có hạnh phúc, vợ chồng thường xúc phạm đánh đập nhau. Một mình chị phải chăm sóc, lo cho các con nên rất khó khăn, anh Th không quan tâm gia đình, vợ con nên cuộc sống gia đình ngày càng căng thẳng, khó khăn. Do không chịu được nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị tòa án nhân dân huyện D giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Đức Th.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Cao Thị Ngọc Tr, sinh ngày 27/7/2009 và Cao Đức Minh Th, sinh ngày 15/11/2016, nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là cháu Cao Đức Minh Th và giao con chung Cao Thị Ngọc Tr cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Cao Đức Th đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hòa giải, anh Th có mặt tại địa phương nhưng không nhận giấy triệu tập, không chấp hành theo giấy báo của tòa án. Anh Th vẫn cố tình vắng mặt, vì vậy tòa án đã lập biên bản về việc không thể tiến hành hòa giải được.

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử cũng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử, không có vi phạm về thủ tục. Về quan điểm giải quyết vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Tr, xử cho chị Trần Thị Tr được ly hôn anh Cao Đức Th. Về con chung: Giao con chung vợ chồng Cao Thị Ngọc Tr, sinh ngày 27/7/2009 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Giao con chung Cao Đức Minh Th, sinh ngày 15/11/2016, cho chị Tr được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh Th, chị Tr có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn, ý kiến trình bày của kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Cao Đức Th đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nên tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Anh Cao Đức Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối 3, thị trấn D, huyện D, hiện anh Th có mặt tại địa phương nhưng từ chối nhận các văn bản tố tụng của tòa án. Không Chấp hành theo giấy triệu tập, giấy báo của tòa án, Tòa án đã tiến hành lập biên bản về việc từ chối nhận văn bản đối với anh Thanh, tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của tòa án về việc giải quyết vụ án theo quy định của tố tụng. Tại phiên tòa thứ nhất vào ngày 30 tháng 5 năm 2019 tòa án đã niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa nhưng anh Cao Đức Th vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa nhưng anh Cao Đức Th vẫn vắng mặt không có lý do nên áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh Cao Đức Th.

Về tình trạng hôn nhận: Xét cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị Tr và anh Cao Đức Th là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống một thời gian thì anh Th nghiện các tệ nạn xã hội phải chấp hành án, sau khi chấp hành án song anh Th vẫn không thay đổi mà còn bị xử phạt nhiều lần, làm ảnh hưởng đến gia đình, kinh tế. Từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh Th không quan tâm đến gia đình, vợ con. Vợ chồng thường xuyên xúc phạm, đánh đập lẫn nhau nên cuộc sống không có hạnh phúc. Đến nay vợ chồng sống ly thân không còn đi lại, quan tâm chăm sóc nhau. Tại phiên tòa hôm nay, chị Tr vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Cao Đức Th, anh Cao Đức Th vắng mặt. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Tr và anh Th đã thật sự trầm trọng. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là có thật và vợ chồng đã ly thân, cắt đứt mọi tình cảm không còn đi lại, quan tâm đến nhau. Đời sống chung chấm dứt, mục đích hôn nhân không còn. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Tr, xử cho chị Trần Thị Tr được ly hôn anh Cao Đức Th theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Cao Thị Ngọc Tr, sinh ngày 27/7/2009 và Cao Đức Minh Th, sinh ngày 15/11/2016, nay ly hôn chị Tr có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung Cao Đức Minh Th và giao con chung Cao Thị Ngọc Tr cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, tại phiên tòa anh Th vắng mặt. Xét việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung là trách nhiệm của cha mẹ, Cháu Tr hiện ở cùng anh Th, cháu được ăn học phát triển bình thường. Bên cạnh đó cháu cũng có nguyện vọng ở cùng anh Th Cháu Th còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Tr. Giao con chung Cao Thị Ngọc Tr, sinh ngày 27/7/2009 cho anh Cao Đức Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Giao con chung Cao Đức Minh Th, sinh ngày 15/11/2016 cho chị Trần Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp. không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh Th, chị Tr có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Trần Thị Tr phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 điều 56, Điều 57, Điều 81, điều 82 điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Tr được ly hôn anh Cao Đức Th.

- Về con chung: Giao con chung Cao Thị Ngọc Tr, sinh ngày 27/7/2009 cho anh Cao Đức Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Giao con chung Cao Đức Minh Th, sinh ngày 15/11/2016 cho chị Trần Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh Th, chị Tr có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

- Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không xem xét giải quyết.

- Án phí: Buộc chị Trần Thị Tr phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khẩu trừ vào khoản tiền dự phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo biên lai số 0004556 ngày 12/3/2019. Chị Tr đã nộp đủ án phí DSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn chị Trần Thị Tr. chị Trần Thị Tr được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đối với bị đơn anh Cao Đức Th vắng mặt có quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ