- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lưu Thị T yêu cầu ly hôn với anh Trần Hiếu P"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 28-11-2019. “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Quân.
Ông Dương Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ng c Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2019/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 9 năm 2019 “Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị T, sinh năm: 1989 “vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt”.
Cư trú tại: Số nhà 80, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S.
- Bị đơn: Anh Trần Hiếu P, sinh năm: 1985 “vắng mặt”.
Cư trú tại: Số nhà 250 ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 9 năm 2019, nguyên đơn là chị Lưu Thị T trình bày:
- Về hôn nhân Chị Lưu Thị T và anh Trần Hiếu P tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Thạnh 3 vào ngày 02/3/2009. Sau khi kết hôn chị T và anh P chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị T và anh P sống ly thân từ tháng 11 năm 2010 cho đến nay. Chị T yêu cầu được ly hôn với anh P.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh P có 01 người con chung tên Trần Thị Kim N, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2010. Hiện nay cháu N đang sống chung với anh P, nên chị T thống nhất cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, chị T sẽ không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh P không có tài sản chung và nợ chung, nên chị T không yêu cầu giải quyết.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị Lưu Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.
* Bị đơn là anh Trần Hiếu P đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, nên anh P đã biết được yêu cầu của chị T, nhưng anh P không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T.
Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung đã ban hành thông báo về phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập anh Trần Hiếu P tham gia phiên h p hai lần hợp lệ, nhưng anh P vắng mặt không có lý do và anh P cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lưu Thị T. Về hôn nhân: xử cho chị T được ly hôn với anh P; về con chung: giao cháu Trần Thị Kim N cho anh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên, do anh P không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, nên chị T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh P không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 9 năm 2019 của chị Lưu Thị T thì chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Hiếu P. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Chị Lưu Thị T là nguyên đơn trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Anh Trần Hiếu P là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh P.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị T và anh Trần Hiếu P tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị T và anh P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Thạnh 3, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của chị T và anh P là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì chị T và anh P chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên chị T và anh P sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì chị T và anh P không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2010. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị T và anh P không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm tr ng. Chị T yêu cầu được ly hôn; anh P không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T.
Xét thấy: Hiện nay hôn nhân của chị T và anh P đã lâm vào tình trạng trầm tr ng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị T yêu cầu được ly hôn với anh P là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị T được ly hôn với anh P.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Lưu Thị T và anh Trần Hiếu P có 01 người con chung tên Trần Thị Kim N, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2010. Từ khi chị T và anh P sống ly thân cho đến nay anh P trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Chị T thống nhất cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu N cho đến khi cháu N thành niên, chị T sẽ không cấp dưỡng nuôi con; nguyện v ng của cháu N cũng muốn được tiếp tục sống chung với anh P; anh P không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T.
Xét thấy: Từ khi chị T và anh P sống ly thân cho đến nay anh P là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, hiện nay cháu N đang có cuộc sống ổn định, được đi h c đúng độ tuổi; nguyện v ng của cháu N cũng muốn được tiếp tục sống chung với anh P; việc chị T thống nhất cho anh P trực tiếp nuôi cháu N là phù hợp với nguyện v ng của cháu N và đảm bảo quyền lợi về m i mặt của cháu N, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu N cho anh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên. Do anh P không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, nên chị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho chị T, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống chị Lưu Thị T và anh Trần Hiếu P không có tài sản chung, chị T và anh P không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Trong thời gian chung sống chị Lưu Thị T và anh Trần Hiếu P không có nợ chung, chị T và anh P không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T. Như đã nhận định ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Lưu Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009602 ngày 11 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, như vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Trần Hiếu P không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị T.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị T được ly hôn với anh Trần Hiếu P.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Kim N, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2010 cho anh Trần Hiếu P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên. Chị Lưu Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho chị T, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lưu Thị T và anh Trần Hiếu P không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lưu Thị T phải nộp phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009602 ngày 11 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, như vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Trần Hiếu P không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn chị Lưu Thị T và bị đơn anh Trần Hiếu P không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Cù Lao Dung; - Chi cục THADS huyện Cù Lao Dung; - UBND xã An Thạnh 3; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Liên Lâm Anh Thảo |