- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V - Nguyễn Văn Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của tại Ngân hàng TMCP V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/DS-ST Ngày: 21/10/2019 V/v: "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Nguyễn Thị Ngọc Lan
2. Bà: Nguyễn Thị Vòng
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới
Trong ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2019/TLST- DS ngày 16 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2019/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2019;
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; Địa chỉ: 89 Láng H, phường Láng H, Quận Đ, TP. H; Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền hiện tại: Ông Nguyễn Ngọc C – Cán bộ xử lý nợ VPBank AMC (Theo văn bản ủy quyền số 1378/2019/UQ-VPB ngày 01/4/2019). Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Thôn M, xã B, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn, Ngân hàng TMCP V trong đơn khởi kiện và trong các văn bản tố tụng cũng như tại phiên tòa trình bày:
Anh Nguyễn Văn Q có vay tại Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Quảng Bình theo đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm Hợp đồng thẻ tín dụng số 177-P – 666681 được giải ngân ngày 13/01/2018. Với số tiền cho vay: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Biện pháp bảo đảm tiền vay: Tín chấp, không có tài sản bảo đảm. Thời hạn cho vay: 60 tháng tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn: cho vay tiêu dùng. Quá trình thực hiện hợp đồng anh Nguyễn Văn Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP V nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Kể từ khi khoản vay chuyển sang nợ quá hạn Ngân hàng TMCP V chi nhánh tỉnh Quảng Bình đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để anh Nguyễn Văn Q thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng anh Q vẫn không có thiện chí trả nợ, để nợ quá hạn dây dưa kéo dài cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Tính đến ngày 21/10/2019, anh Nguyễn Văn Q còn nợ Ngân hàng TMCP V chi nhánh Quảng Bình số tiền là 32.466.350 đồng. Trong đó nợ gốc: 14.833.212 đồng và nợ lãi 17.633.138 đồng. Vì vậy, để thu hồi nợ vay nói trên, Ngân hàng TMCP V yêu cầu anh Nguyễn Văn Q phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nói trên và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến ngày anh Q thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
* Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã ra Thông báo thụ lý vụ án và gửi cho bị đơn kèm theo giấy triệu tập đến tòa án nhưng bị đơn không đến Tòa án theo thời gian quy định. Vì vậy tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp cho bị đơn nhưng không tiến hành giao nhận được (có lập biên bản) vì hiện nay anh Q không có mặt tại địa phương. Phía Ngân hàng TMCP V cũng đã có biên bản xác minh gửi về cho Tòa án với nội dung xác minh về việc anh Q có hộ khẩu thường trú tại Thôn M, xã B, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình và hiện nay không có mặt tại địa phương.
Việc tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng theo luật định không có kết quả. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo luật định để đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết và cũng là nơi đăng ký nhân khẩu thường trú của bị đơn. Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35; Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 BLTTDS. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, hòa giải nhưng bên bị đơn vắng mặt, không tiến hành hòa giải được (có lập biên bản). Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Ngày 10/9/2019 Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Quyết định xét xử số 116/2019/QĐST- DS ngày 10/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới. Anh Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên HĐXX ra Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2019/QĐST-DS ngày 27/9/2019 theo đúng quy định tại Điều 227, 233 BLTTDS. Nhưng phía bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên HĐXX căn cứ vào Điều 227; Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Q.
Về nội dung:
Căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử và các chứng cứ có trong hồ sơ xác định được Anh Nguyễn Văn Q có vay tại Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Quảng Bình theo đơn đề nghị mở tài khoản anh Q có khai là chủ hộ kinh doanh xe máy cũ tại đường L, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Quảng Bình đã phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm Hợp đồng thẻ tín dụng số 177-P – 666681, giải ngân ngày 13/01/2018, loại thẻ Mobifone – Vpbannk MasterCard Classic. Với số tiền cho vay: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Biện pháp bảo đảm tiền vay: Tín chấp, không có tài sản bảo đảm. Thời hạn cho vay: 60 tháng tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn: cho vay tiêu dùng. Xét hợp đồng đã ký kết nêu trên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, nên hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng anh Q đã thực hiện được một phần nghĩa vụ với số tiền 1.000.000đ, sau đó vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Tại mục III của hợp đồng thể hiện " Bằng việc kích hoạt thẻ, chủ thẻ xác nhận và đồng ý chịu ràng buộc nghĩa vụ với VPBank theo toàn bộ nội dung tại Giấy đề nghị. Phần xác nhận chấp thuận dành cho VPBank, điều kiện giao dịch chung về mở và sử dụng Thẻ tín dụng của VPBank và các nội dung thông báo của VPBank về hạn mức tín dụng, lãi suất, phí....tại Thư chào mừng và sao kê hàng tháng VPBank gửi cho chủ thẻ". Về phương pháp tính lãi căn cứ vào Điều 6 của Điều kiện giao dịch chung về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại Vpbank “Lãi được cộng dồn hàng ngày theo dư nợ của chủ thẻ và được tính theo mức lãi suất theo biểu lãi suất do Vpbank quy định tại từng thời kỳ”. Căn cứ Quyết định 265/2018/QĐ-TGĐ ngày 05/4/2018 về ban hành thay đổi lãi suất của thẻ tín dụng áp dụng cho khách hàng cá nhân, loại thẻ VPbank No.1 MasterCard, lãi suất áp dụng là 3,75%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Và Quyết định số 354/2019QĐ-TGĐ ngày 31/5/2019 về việc ban hành điều chỉnh lãi suất thẻ tín dụng khối khách hàng cá nhân thẻ VPbank No.1 MasterCard, lãi suất áp dụng mới là 3,99%/tháng, hiệu lực kể từ ngày 06/6/2019. Theo xác minh từ phía Ngân hàng TMCP V cung cấp (có biên bản xác minh có chính quyền địa phương xác nhận) hiện nay anh Q không có mặt tại địa phương nên nghĩa vụ trả nợ không được đảm bảo. Phía Ngân hàng cũng đã nhiều lần liên hệ từ phía người nhà của anh Q nhưng không có sự phối hợp. Hiện nay khoản nợ đã chuyển qua nợ quá hạn, ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp cũng như tạo điều kiện để anh Q tìm mọi khả năng thanh toán nợ nhưng anh Q vẫn cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Sau đó phía Ngân hàng cũng đã dùng nhiều biện pháp để tiếp cận cũng như tìm hiểu thông tin của bị đơn nhưng không có thông tin, thuộc trường hợp dấu địa chỉ. Như vậy, anh Q đã vi phạm hợp đồng ký kết giữa hai bên. Theo yêu cầu của nguyên đơn thì tính đến ngày xét xử 21/10/2019 tổng số tiền bị đơn phải trả cho Ngân hàng TMCP V là: 32.466.350đồng (Trong đó nợ gốc: 14.833.212 đồng và nợ lãi 17.633.138 đồng. Ngân hàng TMCP V yêu cầu anh Q tìm mọi nguồn thu để trả nợ cho ngân hàng số tiền nói trên và tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết số nợ là hoàn toàn có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở để chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 35; Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 116, 119, 385, 398, 401 Bộ luật dân sự;
- Áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng (2010);
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của tại Ngân hàng TMCP V.
1.1. Buộc anh Nguyễn Văn Q phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tính đến ngày 21/10/2019 là: 32.466.350 đồng (Trong đó nợ gốc: 14.833.212 đồng và nợ lãi 17.633.138 đồng.
1.2. Từ ngày 22/10/2019 cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi, hàng tháng anh Nguyễn Văn Q còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất đã được thỏa thuận theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử số 449210 ngày 08/1/2018 mà hai bên đã ký kết.
2. Án phí:
3.1. Bị đơn anh Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.623.000 đồng.
3.2. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 574.495 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000882 ngày 16/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND TP. Đồng Hới; - Chi cục THADS TP. Đồng Hới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Hoàng Thị Thanh Nhàn |