vanban.org

Bản án 26/2018/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 27/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Sỹ A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2018/HS-ST
Ngày: 27/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Văn Thị Lệ Văn

Ông Trần Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trương Quang Thu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Hồ Sỹ A, sinh ngày 22/10/1979 tại Nghệ An. Nơi ĐKNKTT: 05A đường A1, phường A2, thành phố A3, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở: không có nơi ở ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hồ Quang A4, sinh năm 1949 và bà Hoàng Thị A5, sinh năm 1950; vợ: Nguyễn Thị A6 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2007; tiền sự: Không; tiền án: 02:

- Bản án số 59/2015/HSST ngày 24/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố A3, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng 19 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tòa án nhân dân thành phố A3 quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa;

- Bản án số 314/2016/HSST ngày 19/10/2016 của Tòa án nhân dân thành phố A3, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2018. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1) Ông B, sinh năm 1966; quốc tịch: Nga; nơi cư trú: Nga. Ông B về nước nên đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa.

2) Bà C, sinh năm 1989; quốc tịch: Nga; nơi cư trú: Nga. Bà C về nước nên đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1) Ông D, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 86A đường D1, phường D2, thành phố A3, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

2) Bà E, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ 13 E1, phường E2, thành phố A3, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

3) Anh I, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp I1, xã I2, thị xã I3, tỉnh An Giang; tạm trú: Phòng 304 Khánh sạn I4, số 169 đường I5, phường I6, thành phố A3, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Sỹ A lang thang tại bờ biển A3. Do không có tiền tiêu xài, A nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của khách du lịch. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 17/4/2018, A đi lang thang tại công viên bờ biển đoạn đối diện 96 đường H, phường D2, thành phố A3 thì phát hiện anh B (quốc tịch Nga) để giỏ xách trên ghế nằm ở bãi cát (trong giỏ có 01 máy tính bảng Ipad, 01 điện thoại di động Huawei p6 và 900.000 đồng) rồi đi xung quanh chụp ảnh. Quan sát xung quanh thấy không có người trông giữ tài sản, A liền lén lút đến gần, lục giỏ xách lấy trộm 01 máy tính bảng Ipad, 01 điện thoại di động Huawei p6 và 900.000 đồng. Sau đó A gặp I (bê đê nam giả nữ), A nhờ I bán máy tính bảng Ipad để trả tiền quan hệ, còn lại I đưa cho A 01 triệu đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 18/4/2018, A đi lang thang tại công viên bờ biển đối diện số 98đường H, phường D2, thành phố A3 thì phát hiện chị C (quốc tịch Nga) để 01 quần sọc trên bãi cát, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Xinaomi Redmi 4A, 450 USD, 8.950 Rúp và 1.000.000 đồng. Quan sát xung quanh không có người trông giữ tài sản, A liền đến gần lục quần sọc lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Xinaomi Redmi 4A, 450 USD, 8.950 Rúp và 1.000.000 đồng.

A tiếp tục lấy trộm 01 dây chuyền kim loại màu vàng, mặt dây hình chữ Guci ở gần đó (chưa xác định được người bị hại). Sau đó A cất dấu toàn bộ tài sản trong người.

Sau khi nhận tin báo của người bị hại, tiến hành truy xét Cơ quan Công an đã đưa I và Hồ Sỹ A về trụ sở Công an làm việc. Hồ Sỹ A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tại Bản kết định giá tài sản số 198/HĐĐG ngày 28/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố A3 đã kết luận: 01 máy tính bảng Ipad, 01 điện thoại di động Huawei p6, 01 điện thoại di động hiệu Xinaomi Redmi 4A có tổng giá trị 10.601.000 đồng.

Theo Công văn số 422/KHH-THNSKSNB ngày 29/5/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chi nhánh Khánh Hòa thì tỷ giá ngoại tệ 8.950 Rúp quy đổi là 3.153.532 đồng; 450 USD được quy đổi là 10.116.900 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Hồ Sỹ A đã trộm cắp của anh B và chị C là 25.771.432 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSKH-P2 ngày 09/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Hồ Sỹ A về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hồ Sỹ A từ 02 đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo trình bày: Do vừa ra tù không có công việc nên bị cáo đã nảy sinh hành vi phạm tội. Bị cáo biết việc làm của bị cáo là sai xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

* Về thủ tục tố tụng:

Hai người bị hại có quốc tịch Nga, hiện tại đã về nước, quá trình điều tra đã đề nghị xét xử vắng mặt họ tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt (anh D và chị E), anh I và những người làm chứng đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.

Xét thấy những người tham gia tố tụng trên đều có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, vì vậy, Tòa án vẫn xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm hình sự:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên có cơ sở xác định: Tối ngày 17/4/2018 (lúc 22 giờ 00 phút), tại công viên bờ biển đoạn đối diện số 96 đường H, phường D2, thành phố A3, bị cáo Hồ Sỹ A đã có hành vi lấy trộm 01 giỏ xách (bên trong có 01 máy tính bảng Ipad, 01 điện thoại di động hiệu Huawei p6 và 900.000 đồng) của anh B (quốc tịch Nga). Đến sáng hôm sau, lúc 19 giờ 00 phút ngày 18/4/2018, tại công viên bờ biển đoạn đối diện số 98 đường H, phường D2, thành phố A3, bị cáo lại tiếp tục lấy 01 quần sọc trên bãi cát của chị C (quốc tịch Nga), bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Xinaomi Redmi 4A, 450 USD, 8.950 Rúp và 1.000.000 đồng.

Theo kết quả định giá tài sản: 01 máy tính bảng Ipad, 01 điện thoại di động hiệu Huawei p6, 01 điện thoại di động hiệu Xinaomi Redmi 4A có tổng giá trị 10.601.000 đồng; tỷ giá ngoại tệ 8.950 Rúp quy đổi là 3.153.532 đồng; 450 USD được quy đổi là 10.116.900 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp của anh B và chị C là 25.771.432 đồng.

[2] Xét thấy: Bản thân bị cáo đã có 02 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản, vừa chấp hành xong hình phạt, bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của những khách du lịch người nước ngoài khi để tài sản trên bãi biển đi dạo chơi, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của họ, tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 25.771.432 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Như vậy, Cáo trạng số 26/CT-VKSKH-P2 ngày 09/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo vừa mới ra trại cải tạo lại tiếp tục phạm tội, thực hiện liên tiếp 02 vụ trộm cắp tài sản. Điều đó thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật, không có ý thức cải tạo, tu dưỡng bản thân, sửa chữa lỗi lầm.

Hành vi của bị cáo không những xâm phạm tài sản của người khác, mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến môi trường du lịch trong nước; gây mất thiện cảm đối với du khách nước ngoài về hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Tại phiên tòa, người bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, anh B và chị C đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan chị E và anh D vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu giải quyết phần dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Hồ Sỹ A phạm tội “Trộm cắp tài sản ”;

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hồ Sỹ A.

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hồ Sỹ A;

- Xử phạt: Bị cáo Hồ Sỹ A 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/4/2018.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ