- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án nguyên đơn Lâm Thi Tiểu M và bị đơn Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓ C TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2018 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Ngọc Các
Ông Huỳnh Phước
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 99/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Tiểu M, sinh năm 1991 (có mặt).
Địa chỉ: Số A đường T, khóm M, phường MU, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1990 (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số B đường T, khóm H, phường H1, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 5 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Lâm Thị Tiểu M trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn N tự nguyện kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H1, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 175, quyển số 01, ngày 28/9/2010. Quá trình chung sống ông, bà có hai người con chung tên Nguyễn Lâm Duy K (nam, sinh ngày 28/5/2009), Nguyễn Lâm Diệu N (nữ, sinh ngày 19/01/2015). Hiện các cháu K, cháu N đang sống chung với ông N tại địa chỉ: Số B đường T, khóm H, phường H1, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng. Đồng thời ông, bà không có tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Thời gian đầu ông, bà chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến ông, bà thường xuyên cãi nhau về những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống, nên ông, bà đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2017 đến nay. Bà nhận thấy không còn tình cảm với ông N, nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
Về con chung: Bà Lâm Thị Tiểu M đồng ý giao hai con chung tên Nguyễn Lâm Duy K (nam, sinh ngày 28/5/2009), Nguyễn Lâm Diệu N (nữ, sinh ngày 19/01/2015). Hiện các cháu K, cháu N đang sống chung với ông N tại địa chỉ: Số B đường T, khóm H, phường H1, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Văn N trược tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, cháu N đủ 18 tuổi và bà không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Tiểu M tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 10 tháng 7 năm 2018, bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của vợ ông về quá trình xác lập quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Còn về nguyên nhân mâu thuẫn thì ông không thống nhất, theo ông nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng ông là do bà M thường xuyên đi làm về trễ, thường xuyên uống rượu với bạn bè, ông không đồng ý nên ông, bà hay cãi nhau, bà M giận bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống từ cuối năm 2017 đến nay. Khi ông, bà phát sinh mâu thuẫn thì gia đình có hòa giải nhưng không thành.
Ông vẫn còn tình cảm với bà M, nhưng bà M cương quyết xin ly hôn với ông, ông cũng đồng ý.
Về con chung: Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Lâm Duy K (nam, sinh ngày 28/5/2009), Nguyễn Lâm Diệu N (nữ, sinh ngày 19/01/2015). Hiện các cháu K, cháu N đang sống chung với ông tại địa chỉ: Số B đường T, khóm H, phường H1, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Văn N trược tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, cháu N đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà M thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Vì từ khi hai cháu được sinh ra đến nay đều sống chung với ông và từ lúc bà M bỏ nhà đi đến nay ông là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con. Hiện hai con của ông đều khỏe mạnh, phát triển bình thường, được đi học đầy đủ.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Văn N tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Ý kiến của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 68; 70; 71; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn ông Nguyễn Văn N không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1, Điều 227, Khoản 1, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mă ̣t ông Nguyễn Văn N.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Tiểu M, về quan hệ hôn nhân của bà Lâm Thị Tiểu M và ông Nguyễn Văn N không vi phạm các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H1 thành phố P, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu bà M và ông N chung sống hạnh phúc. Đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến ông, bà thường xuyên cãi nhau về những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống. Tại tòa bà M xác định không còn tình cảm với ông N, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn và kiên quyết xin ly hôn với ông N. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đồng thời, từ cuối năm 2017 đến nay, bà M và ông N đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà M được ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà Lâm Thị Tiểu M đồng ý giao hai con chung tên Nguyễn Lâm Duy K (nam, sinh ngày 28/5/2009), Nguyễn Lâm Diệu N (nữ, sinh ngày 19/01/2015). Hiện các cháu K, cháu N đang sống chung với ông N tại địa chỉ: Số B đường T, khóm H, phường H1, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, cháu N đủ 18 tuổi và bà không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu K ngày 23/5/2018, cháu K trình bày hiện cháu đang sống chung với ông N, khi cha mẹ cháu ly hôn cháu đồng ý được sống chung với cha cháu là ông N, đồng thời yêu cầu này của bà M được ông N đồng ý. Xét thấy, hai cháu K, cháu N từ khi được sinh ra đến nay đều sống chung với ông N và từ lúc bà M bỏ nhà đi đến nay ông N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu. Hiện nay về tâm sinh lý phát triển bình thường và được đi học đầy đủ. Xuất phát từ mọi lợi ích của cháu K, cháu N. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M giao các cháu K, cháu N cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, cháu N đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông N không yêu cầu bà M thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bà Lâm Thị Tiểu M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị Tiểu M và ông Nguyễn Văn N tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Như đã phân tích nêu trên, lời đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Thị Tiểu M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5, Khoản 1 Điều 28, điểm a, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng: Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lâm Thị Tiểu M và ông Nguyễn Văn N.
2. Về con chung:
2.1. Giao con chung tên Nguyễn Lâm Duy K (nam, sinh ngày 28/5/2009), Nguyễn Lâm Diệu N (nữ, sinh ngày 19/01/2015). Hiện các cháu K, cháu N đang sống chung với ông N tại địa chỉ: Số B đường T, khóm H, phường H1, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng cho ông Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, cháu N đủ 18 tuổi.
2.2. Bà Lâm Thị Tiểu M không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lâm Thị Tiểu M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị Tiểu M và ông Nguyễn Văn N tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Thị Tiểu M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001691 ngày 02/5/2018 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Sóc Trăng; bà M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSNDTP P; - Chi cục THADSTP P; - Ủy ban nhân dân phường H1, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thị Bích Tuyền |