vanban.org

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị G và anh Cao Văn H.

Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị G được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là cháu là Cao Thị Thùy T, sinh ngày 05/3/2013 và Cao Văn Q, sinh 10/7/2016. Anh Cao Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho chị Vũ Thị G mỗi tháng, mỗi con là 1.000.000đ, kể từ tháng 7/2018 cho đến khi con chung đủ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị G và anh H."
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị G và anh Cao Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2018/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 7 - 2018
V/v ly hôn giữa chị G và anh H.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Viện.

2. Bà Bùi Thị Hạnh. -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2018 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXX- HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị G, sinh năm 1993 ( có mặt). Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Cao Văn H, sinh năm 1988 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện T, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Vũ Thị G trình bày:

Về hôn nhân: Chị G và anh Cao Văn H kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã D vào tháng 11 năm 2011, trên cơ sở tự nguyện. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân là do anh H chơi bời, cờ bạc, không tu chí làm ăn. Chị G và anh H đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2016 cho đến nay. Chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên xin được ly hôn anh H.

Về nuôi con chung: Chị G và anh H có 02 con chung là Cao Thị Thùy T, sinh ngày 05/3/2013 và Cao Văn Q, sinh 10/7/2016. Hiện nay chị G đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Sau ly hôn, chị G đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị G mỗi con, mỗi tháng là 1.000.000đ.

Về tài sản, công nợ chung: Chị G không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập các tài liệu có trong hồ sơ vụ án của Thẩm phán và hoạt động tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

- Đề nghị xử ly hôn giữa chị Vũ Thị G và anh Cao Văn H.

- Về nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị G được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu là Cao Thị Thùy T, sinh ngày 05/3/2013 và Cao Văn Q, sinh 10/7/2016, anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị G mỗi con, mỗi tháng 1.000.000đ.

- Về án phí: Chị Vũ Thị G phải nộp án phí ly hôn, anh Cao Văn H phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Cao Văn H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Cao Văn H.

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị G và anh Cao Văn H kết hôn có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do anh H chơi bời, hay tham gia vào tệ nạn bài bạc. Chị G và anh H đã sống ly thân từ 8 năm 2016 đến nay, điều đó thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị G và anh H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của chị G có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị G và anh H có 02 con chung, từ khi chị G và anh H sống ly thân, chị G là người trực tiếp nuôi dưỡng, vẫn đảm bảo quyền lợi của các con chung. Anh H chỗ ở không ổn định, thường xuyên không có nhà. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung nên chấp nhận yêu cầu của chị G, được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng, mỗi con là 1.000.000đ là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, công nợ chung: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án các đương sự không có yêu cầu, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị G phải phải nộp án phí ly hôn, anh H nộp án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị G và anh Cao Văn H.

2.Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị G được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là cháu là Cao Thị Thùy T, sinh ngày 05/3/2013 và Cao Văn Q, sinh 10/7/2016. Anh Cao Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho chị Vũ Thị G mỗi tháng, mỗi con là 1.000.000đ, kể từ tháng 7/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Cao Văn H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này.

3.Về án phí: Chị Vũ Thị G phải nộp 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị G đã nộp theo Biên lai số 0001974 ngày 09 tháng 4 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực. Anh Cao Văn H phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Cao Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ