vanban.org

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho nguyên đơn Lê Thị Phương T được ly hôn bị đơn Võ Quốc H.

Giao cháu Võ Lê Trí Đ, sinh ngày 06/01/2012 cho chị Thảo tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; anh H không cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Lê Thị Phương T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Cho nguyên đơn Lê Thị Phương T được ly hôn bị đơn Võ Quốc H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘ ĐỨC
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 16/11/2018
V/v: Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Kiệm

2. Bà Lê Thị Thanh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mỹ Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Mộ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2018/TLST- HNGĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2018, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXXST- HNGĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2018/QĐST- HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Phương T, sinh năm 1976.

- Bị đơn: Anh Võ Quốc H, sinh năm 1974.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng N.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 25/6/2018, bản tự khai ngày 02/7/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Phương T trình bày: Ngyên đơn và anh Võ Quốc H tìm hiểu yêu thương nhau trong thời gian khoảng 01 năm, rồi được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng N vào ngày 09 tháng 10 năm 1995. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng có những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống với nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; vào năm 2016 nguyên đơn có gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức để yêu cầu được ly hôn với anh H nhưng anh H và gia đình động viên rút đơn về chung sống. Sau khi về chung sống vợ chồng cũng đã nhiều lần được hai bên gia đình hòa giải, động viên nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân và không còn tình cảm với nhau. Nay nguyên đơn yêu cầu được ly hôn anh Võ Quốc H.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con tên Võ Lê Phương D, sinh ngày 23/12/1995; Võ Quốc Lê D, sinh ngày 27/11/1999 và Võ Lê Trí Đ, sinh ngày 16/01/2012. Hiện nay cháu D và cháu D đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Đ hiện nay đang ở với nguyên đơn nên nguyên đơn yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Đ, không yêu cầu anh Huy cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung không có:

* Bị đơn anh Võ Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Huy không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai tại Tòa án.

* Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự cho rằng Thẩm phán, Thư ký tòa án, các Hội thẩm nhân dân và nguyên đơn đều thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử tiến hành nghị án; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.

Về con chung: Võ Lê Phương D, sinh ngày 23/12/1995; Võ Quốc Lê D, sinh ngày 27/11/1999 đã thành niên nên không xem xét. Giao con chung Võ Lê Trí Đ cho nguyên đơn nuôi dưỡng, nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thỏa thuận nên không xem xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không xem xét.

Về án phí: nguyên đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.

*Những tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp cho Tòa án gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); giấy khai sinh tên Võ Lê Trí Đ, Võ Quốc Lê D, Võ Lê Phương D (bản sao); CMND tên Lê Thị Phương T (bản sao), sổ hộ khẩu gia đình (bản sao), giấy xác nhận nơi cư trú (bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn Võ Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Phương T và anh Võ Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/10/1995 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng N. Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống, bị đơn không quan tâm đến gia đình, nguyên đơn đã khuyên bảo nhiều lần nhưng bị đơn không thay đổi nên giữa nguyên đơn và bị đơn xảy ra mâu thuẫn nên nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu được ly hôn với bị đơn.

Sau khi thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã mời hai bên đến để hòa giải, động viên anh chị trở lại đoàn tụ chung sống, cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng chị Thảo không những không đồng ý mà còn cương quyết yêu cầu ly hôn anh H. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc, hòa giải nhưng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Nguyên đơn có yêu cầu nuôi con chung là Võ Lê Trí Đ, sinh ngày 06/01/2012. Xét thấy hiện nay cháu Đ đang ở với mẹ nên cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo ổn định về cuộc sống và các điều kiện phát triển về tinh thần của cháu. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của nguyên đơn được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ.

Đối với con chung tên Võ Lê Phương D, sinh ngày 23/12/1995; Võ Quốc Lê D, sinh ngày 27/11/1999 hiện nay đã thành niên, nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235 Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:

1. Cho nguyên đơn Lê Thị Phương T được ly hôn bị đơn Võ Quốc H.

2. Giao cháu Võ Lê Trí Đ, sinh ngày 06/01/2012 cho chị Thảo tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; anh H không cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Chị Lê Thị Phương T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0003713 ngày 02/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức. Chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Chị Lê Thị Phương T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/11/2018). Anh Võ Quốc H không có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ