vanban.org

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn Đồng.

đình tuyên xử cho chị Nguyễn Thị Phượng được ly hôn anh Nguyễn Văn Đồng. xử: Giao 02 con chung Nguyễn Quang Hà, sinh ngày 20/02/2013 và Nguyễn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Đại Đ - Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn Đồng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỆ THUỶ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10/8/2018
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Việt 2. Bà Nguyễn Thị Hồng Minh Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Linh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.

Trong ngày 10/8/2018, tại Hội trường, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2018/TLS-HNGĐ ngày 03/4/2018 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Đại Đ, sinh năm 1966. Địa chỉ cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1966. Địa chỉ cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 03/4/2018, được bổ sung tại bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên toà, nguyên đơn anh Hoàng Đại Đ trình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Nguyễn Thị T tìm hiểu và quyết định kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 01/1988 ngày 07/9/1988 của UBND thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do anh đi làm xa chị T ở nhà đánh bài bạc, anh khuyên can nhiều lần nhưng chị T vẩn không nghe, vợ chồng không hợp tính tình nên thường xuyên xảy ra mâu thuẩn, cải vả và không ai nhường nhịn ai; năm 2004 anh Đ làm đơn xin ly hôn nhưng do thương con và liên quan đến nhà cửa, đất đai nên đã rút đơn ly hôn; anh tiếp tục đi làm ăn xa nhiều năm không về nhà, những năm gần đây mỗi khi có việc hiếu, hỷ anh về quê đều ở nhà nội, các con anh đề nghị anh đến ở chung với con cho có tình cảm nên anh đến ở chung với các con, vợ chồng cắt đứt quan hệ, sống ly thân từ năm 2004 cho đến nay mà không ai quan tâm đến ai. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn vợ chồng không thể hàn gắn được, yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

Tại Bản tự khai, Biên bản hoà giải và tại phiên toà, bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Quá trình kết hôn giống như anh Đ trình bày, quá trình chung sống vợ chồng vẩn sống hạnh phúc, mỗi khi anh về quê vợ chồng vẩn sống chung, ăn chung với nhau; chị T thừa nhận có chơi bài với chị em buôn bán ở chợ giải trí buổi trưa khi không có khách mua hàng; mặc dù anh Đ chung sống với người khác đã có con nhưng chị T vẩn còn tình cảm với anh Đ, chị T không đồng ý ly hôn với anh Đ để con có cha mẹ, cháu có ông bà.

- Về con chung: Anh Đ, chị T cùng khai có 03 con chung, hai con đầu đã trưởng thành muốn sinh sống với ai thì tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các con, con út Hoàng Thị H, sinh ngày 09/3/2001 hiện nay đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, anh Đ có nguyện vọng giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng chị T mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng, thời gian kể từ tháng 8/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi; nếu ly hôn chị T cũng có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con Hoàng Thị H và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Tại bản tự khai ngày 20 tháng 6 năm 2018, cháu Hoàng Thị H trình bày: Cháu không muốn ba mẹ ly hôn nhưng nếu ly hôn cháu xin ở với mẹ để mẹ chăm lo cháu học hành vì ba đi làm ăn xa.

- Về tài sản chung: Anh Đ và chị T cùng khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh Đ, chị T cùng khai không nợ ai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đại Đ và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, nên đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, lẽ ra anh, chị phải biết thương yêu, quý trọng chăm sóc lẫn nhau nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc. Nhưng anh, chị đã không làm được điều đó để giữ gìn hôn nhân bền vững mà lại để xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân hai bên không hợp nhau về tính cách, thiếu thông cảm chia sẽ những khó khăn trong cuộc sống, vợ chồng đã có thời gian sống hạnh phúc nhưng cả anh và chị đều không biết cách bảo vệ hạnh phúc lâu dài, anh Đ thường xuyên đi làm ăn xa, khi có việc gia đình mới về nhà nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Chị T thiếu sự quan tâm, chia sẽ, động viên, níu kéo tình cảm với anh Đ; Toà án đã hoà giải, động viên anh Đ trở lại đoàn tụ vợ chồng để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi daỵ con cái nhưng anh Đ xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẩn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn chị T. Bên cạnh đó, mặc dù đã được Toà án động viên, tạo điều kiện về thời gian nhưng chị T chưa thực sự chủ động gặp gỡ, níu kéo, động viên anh Đ trở lại đoàn tụ vợ chồng; anh, chị sống ly thân đã lâu mà không ai quan tâm đến ai, anh trình bày chị cờ bạc anh khuyên can nhiều lần vẩn không thay đổi, chị trình bày anh sống chung với người khác và đã có con riêng chứng tỏ tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần thiết cho anh Đ được ly hôn chị T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Sau ly hôn, anh Đ có nguyện vọng giao con Hoàng Thị H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng chị T mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng, thời gian kể từ tháng 8/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi; chị T cũng có nguyện vọng trực tiếp nuôi con Hoàng Thị H, cháu H cũng có nguyện vọng được ở với mẹ; mặc dù chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nhưng chị không chứng minh được thu nhập của mình đủ khả năng, điều kiện nuôi con, nếu anh Đ không tự nguyện cấp dưỡng thì Hội đồng xét xử cũng ấn định mức cấp dưỡng nuôi con để đảm bảo quyền lợi cho con dưới 18 tuổi. Vì vậy giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị H và chấp nhận nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con của anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh, chị khai không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hoàng Đại Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Hoàng Thị H, sinh ngày 09/3/2001 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Đ cấp dưỡng nuôi con cùng chị T mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng, thời gian kể từ tháng 8/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Hoàng Đại Đ phải chịu 300.000đ án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ. Số tiền anh Đ phải nộp được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0001741 ngày 03 tháng 4 năm 2018. Anh Đ phải nộp tiếp 300.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt các bên đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/8/2018).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ