- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị L - Nguyễn Vủ Minh P"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2018/HNGĐ-ST Ngày: 16/3/2018 “V/v tranh chấp HNGĐ – Xin ly hôn, nuôi con, chia tài sản và nợ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Mai Hương,
2. Ông Lê Đình Thủ.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Hồng Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong ngày 16 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 11/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018 về việc: “Tranh chấp HNGĐ - Xin ly hôn, nuôi con, chia tài sản và nợ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2018/QĐXXST-HNGĐ giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phan Thị L, sinh năm 1985;
Địa chỉ: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đ.
2. Bị đơn: Nguyễn Vủ Minh P, sinh năm 1983;
Địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện C, tỉnh Đ.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và biên bản hòa giải ngày 05/3/2018 nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh P kết hôn năm 2002, không có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cự cãi do anh P ghen tuông vô cớ, công việc gia đình anh P chỉ quyết định một mình mà không hỏi ý kiến của chị. Chị đã nhiều lần khuyên nhưng anh P không thay đổi. Vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2008 đến nay. Trong thời gian ly thân này, vợ chồng không ai có ý định hàn gắn với nhau. Nay chị L nhận thấy tình cảm hai bên không thể hàn gắn được, nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Vủ Minh P.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/01/2003. Hiện nay, con chng đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Theo ý kiến tại biên bản hòa giải ngày 05/3/2018 bị đơn anh Nguyễn Vủ Minh P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận lời trình bày của chị L về việc hai người kết năm 2002, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn như lời trình bày của chị L. Vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2008 đến nay. Trong thời gian ly thân này, vợ chồng không ai có ý định hàn gắn với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Phan Thị L.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/01/2003. Hiện nay, con chng đang sống với chị L. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị L được nuôi dưỡng con chung, anh P không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:
1. Bản sao giấy khai sinh tên Nguyễn Minh K.
2. Bản photo giấy chứng minh nhân dân tên Phan Thị L và Nguyễn Vủ Minh P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Anh Nguyễn Vủ Minh P đã được triệu tập hợp lệ, đã nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Vủ Minh P.
Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2018 thì Hội thẩm nhân dân chính thức là ông Phạm Phước Tâm và bà Hồ Thị Mai Hương, Hội thẩm nhân dân dự khuyết là ông Dương Tấn Lợi và bà Lê Thị Ngọc Châu. Tuy nhiên, ông Lợi, bà Châu và ông Tâm đều bận công tác đột xuất nên thay thế Hội thẩm nhân dân là ông Lê Đình Thủ để tham gia Hội đồng xét xử. Đương sự có mặt tại phiên tòa thống nhất với sự thay đổi này nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử.
- Về hôn nhân: Xét thấy chị Phan Thị L và anh Nguyễn Vủ Minh P tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002, mặc dù việc sống chung của anh chị đều được hai bên gia đình thừa nhận, nhưng chị L và anh P đã không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật để được công nhận là vợ chồng. Bởi lẽ, tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “ 1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng....”; và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cũng quy định: “ Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 điều 14 của Luật này....”. Do chị L và anh P không đăng ký kết hôn nên khi chị L xin ly hôn Hội động xét xử không tiến hành hòa giải quan hệ hôn nhân giữa hai người; Và vì vậy, Hội đồng xét xử không công nhận chị Phan Thị L và anh Nguyễn Vủ Minh P là vợ chồng.
- Về con chung: Xét thấy con chung tên Nguyễn Minh K có nguyện vọng sống với chị L; điều này phù hợp với sự thỏa thuận giữa chị L và anh P nên chấp nhận con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/01/2003 do chị L trực tiếp nuôi dưỡng; anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu
Anh P có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Chị L và anh P thống nhất không có nên Tòa không xem xét.
- Về nợ chung: Chị L và anh P thống nhất không có nợ chung của ai cũng không cho ai mượn nợ.
- Án phí: Chị Phan Thị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Phan Thị L và anh Nguyễn Vủ Minh P là vợ chồng.
2. Về con chung: Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/01/2003 sẽ do chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh P có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Phan Thị L phải chịu 300.000đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 04023 ngày 05 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với anh P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - Tòa án tỉnh. - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trung Dũng |