- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "M kiện B và Q về hụi"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị B Th K M.
- Căn cứ chính? Điều 298 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 479 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2018/DS-ST Ngày: 01/02/2018 (V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phúc.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Thanh;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hùng – Kiểm sát viên
Vào ngày 01 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 301/2017/TLST – DS ngày 10 tháng 10 năm 2017 về việc: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXX-ST ngày 16 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: B Th K M, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp Đ, xã TB, huyện CL, tỉnh TG (có mặt).
Bị đơn: Ng Th B B, sinh năm 1980 và Ng M Q, sinh năm 1974. Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã TB, huyện CL, tỉnh TG (có mặt chị B, anh Q có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 02/10/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn B Th K M trình bày:
Chị có tham gia chơi dây hụi giá 3.000.000 đồng khui ngày 10/7/2016 âm lịch do chị Ng Th B B làm chủ thảo, hụi có 29 phần, chị tham gia 01 phần, một tháng khui hụi 01 lần, tiền hoa hồng cho chủ thảo là 1.500.000 đồng/lần giao hụi. Chị góp cho chị Ng Th B B được 13 lần hụi sống thì chị Ng Th B B tuyên bố bể hụi nên phải trả lại cho chị 39.000.000 đồng.
Ngoài ra, chị còn tham gia dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 15/10/2016 âm lịch do chị Ng Th B B làm chủ thảo, hụi có 26 phần, chị tham gia 01 phần, chị đã hốt hụi và nhận đủ tiền hốt hụi, hiện còn thiếu lại 04 lần hụi chết là 8.000.000 đồng.
Nay đồng ý cấn trừ số tiền 8.000.000 đồng chị còn thiếu và số tiền 1.500.000 đồng hoa hồng cho chủ thảo vào số tiền 39.000.000 đồng mà chị Ng Th B B phả trả cho chị.
Yêu cầu chị Ng Th B B và anh Ng M Q phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho chị số tiền 29.500.000 đồng, vì chị Ng Th B B và anh Ng M Q là vợ chồng. Việc chị Ng Th B B làm chủ thảo anh Ng M Q có biết và không có ý kiến phản đối.
* Theo bản tự khai ngày 30/10/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn Ng Th B B trình bày:
Chị có làm chủ thảo 02 dây hụi như chị M trình bày là đúng.
Đối với dây hụi 3.000.000 đồng, chị B Th K M có góp được 13 lần hụi sống, mỗi lần 2.300.000 đồng, thì hụi bể do các hụi viên khác hốt hụi nhưng không góp lại tiền hụi chết, chị không có khả năng choàng hụi, nay chị đồng ý trả lại chị B Th K M số tiền góp hụi 29.900.000 đồng. Chị đồng ý cấn trừ 8.000.000 đồng chị B Th K M còn thiếu vào số tiền phải trả lại cho chị B Th K M. Anh Ng M Q có biết chị làm chủ thảo hụi và góp hụi của các hụi viên nhưng không có liên quan gì trong vụ kiện này.
* Theo bản tự khai ghi ngày 30/10/2017 bị đơn Ng M Q trình bày:
Vợ anh là chị Ng Th B B có làm chủ thảo hụi nhưng anh không biết và không có liên quan gì nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị B Th K M và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng thủ tục tố tụng. Viện kiểm sát không có kiến nghị bổ sung thêm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn cùng liên đới trả cho nguyên đơn số tiền 29.500.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy chị B Th K M khởi kiện yêu cầu chị Ng Th B B, anh Ng M Q trả lại tiền góp hụi nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật dân sự 2005.
Về yêu cầu các bên đương sự: Tại phiên Tòa chị B Th K M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử nhận định:
Xét thấy việc tham gia góp hụi giữa chị Ng Th B B với chị B Th K M có làm hợp đồng, được hai bên thừa nhận, thể hiện ý chí của hai bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật nên được công nhận.
Xét chị B Th K M yêu cầu chị Ng Th B B và anh Ng M Q phải liên đới trả lại tiền góp hụi có lãi, Hội đồng xét xự nhận thấy: Tại phiên tòa các bên thừa nhận khi tham gia chơi hụi có thỏa thuận góp hụi sống được hưởng hụi chết, nhưng chị Ng Th B B chỉ đồng ý trả lại cho chị B Th K M tiền góp hụi sống với lý do dây hụi bể, những hụi viên hốt hụi không góp lại tiền hụi chết, chị không có khả năng choàng hụi là không có cơ sở. Bởi lẽ, hụi các bên tham gia là hụi có lãi (góp hụi sống được hưởng hụi chết). Chị Ng Th B B làm chủ thảo hụi và hưởng hoa hồng thì phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các hụi viên trong dây hụi. Nếu các hụi viên hốt hụi nhưng không góp lại hụi chết thì chị Ng Th B B có quyền khởi kiện họ bằng vụ kiện khác theo quy định pháp luật. Lỗi làm cho dây hụi bị bể không phải của chị B Th K M. Chị B Th K M đã thực hiện nghĩa vụ góp hụi nhưng chị Ng Th B B không trả lại tiền góp hụi theo thỏa thuận là vi phạm Điều 479 Bộ luật dân sự và Điều 29 Nghị định Số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường nên yêu cầu của chị B Th K M là có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên toà chị Ng Th B B thừa nhận mình là người quản lý chi tiêu chính trong gia đình và việc làm chủ thảo hụi không phục vụ cho mục đích riêng nên việc cá nhân một mình chị đứng ra trả lại tiền góp hụi là vi phạm nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị B Th K M nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Xét ý kiến của anh Ng M Q không biết chị Ng Th B B làm chủ thảo hụi là mâu thuẩn với lời khai của chị Ng Th B B tại phiên tòa và biên bản ghi lời khai ngày 30/10/2017 nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tổ chức đối chất nợ chung của hai vợ chồng nhưng anh Ng M Q không đến dự mà không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị B Th K M và chị Ng Th B B về việc cấn trừ số tiền 8.000.000 chị còn nợ và 1.500.000 đồng hoa hồng cho chủ thảo vào số tiền phải trả cho chị B Th K M.
Xét đơn xin miễn giảm án phí dân sự sơ thẩm của chị Ng Th B B không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí theo quy định tại Điều 13 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên không chấp nhận.
Về án phí: Chị Ng Th B B và anh Ng M Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 298, 479 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định Số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị B Th K M.
1. Buộc chị Ng Th B B và anh Ng M Q có nghĩa vụ liên đới trả cho chị B Th K M số tiền 29.500.000 đồng sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày chị B Th K M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Ng Th B B và anh Ng M Q chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí: Chị Ng Th B B và anh Ng M Q phải chịu 1.475.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại chị B Th K M 1.050.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 14822 ngày 10/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; - VKSND huyện CL; - Chi cục THADS huyện CL; - Các Đ/S; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hà Văn Phúc |