vanban.org

Bản án 26/2018/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 19/01/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "tranh chấp quyền sở hữu tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 158 Bộ luật Dân sự; Điều 221 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NH Đ NG TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2018/DS-PT
Ngày 19 - 01 - 2018
V/v tranh chấp về quyền sở hữu
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH Đ NG TH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Đinh Chí Tâm

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Liên Hiệp

Bà Nguy n Huỳnh Thị Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp tham gia phiên toà: ng Nguy n Bình Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2017/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp dân sự về quyền sở hữu tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 48/2017/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố C bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 308/2017/QĐPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguy n Văn H, sinh năm 1947;

Địa chỉ: Tổ 18, ấp Hòa Khánh, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị Nh, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Tổ 11, Khóm 2, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Lê Văn S, sinh năm 1968;

Địa chỉ: Số 297, lộ Hòa Đông, Tổ 18, ấp Hòa Khánh, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Võ Phát Tr

- Văn phòng luật sư Đức Tr – thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Nguy n Thị Nh, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Số 48, Ấp 3, xã M, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

2/ Ủy ban nhân dân thành phố C;

Địa chỉ: Đường 30/4, Phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

3/ Nguy n Thúy H, sinh năm 1969;

4/ Lê Dương Trung H, sinh năm 2001;

Cùng địa chỉ: Tổ 18, ấp Hòa Khánh, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của bà H, anh H: Ông Lê Văn S, sinh năm 1968;

Địa chỉ: Số 297, lộ Hòa Đông, Tổ 18, ấp Hòa Khánh, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người háng cáo: Ông Lê Văn S.

- iện i m át háng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ N:

- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Năm 2003, ông H có chuyển nhượng cho bà Nguy n Thị Nh phần đất diện tích 76,5m2, tại thửa số 363, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã H, thành phố C. Hai bên đã thống nhất vị trí phần đất chuyển nhượng và cắm trụ đá để xác định vị trí; đồng thời xác định phần đất còn lại từ trụ đá trở ra đường lộ, diện tích 16m2 vẫn còn là của ông H. Do phần đất này trước khi chuyển nhượng cho bà Nh thì đã được nhà nước quy hoạch làm đường nên không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H.

Năm 2007, bà Nh chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất này cho ông Lê Văn S và ông S có nhận chuyển nhượng thêm phần đất của ông Kh nên sau đó ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích tổng cộng là 141m2.

Năm 2014, Nhà nước tiến hành giải phóng mặt bằng, mở rộng hành lang đường bộ nên phần diện tích đất của ông H không chuyển nhượng cho bà Nh thuộc diện được nhận đền bù với số tiền là 24.600.000 đồng, nhưng ông S đã đứng ra nhận toàn bộ số tiền nêu trên từ Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư thành phố C. Lúc đó hai bên thỏa thuận miệng là sau khi ông S nhận xong thì giao tiền cho ông H nhưng khi nhận tiền xong ông S không thực hiện đúng theo thỏa thuận.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu xác định số tiền đền bù 24.600.000đ nêu trên thuộc quyền sở hữu của ông vì tại thời điểm quy hoạch thì diện tích đất này vẫn thuộc quyền sử dụng của ông H, đồng thời yêu cầu ông S, bà H và anh H phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại số tiền 24.600.000đ nêu trên cho ông H.

Ngày 27/6/2016, ông H khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án hủy một phần Quyết định số 438/QĐ-HĐBTHT&TĐC của Hội đồng Bồi thường Hỗ trợ và Tái định cư thành phố C về số tiền 24.600.000 đồng; nhưng sau đó đã rút yêu cầu này.

- Bị đơn ông Lê Văn S trình bày:

Ông S thừa nhận phần đất của ông thuộc thửa 363, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã H, thành phố C có nguồn gốc là nhận chuyển nhượng từ bà Nguy n Thị Nh. Ông S xác định phần đất nhà nước bồi thường là không cấp quyền sở hữu cho ai và ông đã sử dụng để làm đường đi, trồng cây trên diện tích đất đó. ng nhận chuyển nhượng đất thì không có việc thỏa thuận trước đó giữa ông Hùng và bà Nh là phần đất từ trụ đá trở vào của bà Nh và từ trụ đá trở ra lộ giới còn của ông H khi hai người này chuyển nhượng đất. Ông S không có thỏa thuận với ông H về việc nhận tiền đền bù rồi giao lại cho ông H như ông H trình bày. Ngoài ra, khi Nhà nước đền bù đối với phần diện tích đất 16m2 này đã được họp dân nhưng ông H không có ý kiến ngăn cản hay tranh chấp gì nhưng khi Ủy ban nhân dân thành phố C ra quyết định bồi thường hỗ trợ tái định cư cho ông thì ông H phát sinh tranh chấp. Như vậy, ông xác định việc Nhà nước đền bù cho ông là đúng đối tượng.

Do đó, ông S không đồng ý trả cho ông H số tiền Nhà nước đền bù 24.600.000đ. Ông S không có yêu cầu giải quyết về số tiền san lắp đất làm đường đi trên phần đất 16m2.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Dương Trung H:

Anh H không có yêu cầu gì đối với số tiền 24.600.000 đồng và không đồng ý liên đới trả số tiền 24.600.000 đồng cho ông H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thúy H trình bày:

Bà là vợ của ông S. Bà thống nhất với lời trình bày của ông S và không đồng ý có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 24.600.000đ theo yêu cầu của ông H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố C:

Theo quyết định số 438/QĐ-HĐBTHT&TĐC; Quyết định số 138/QĐ-HĐBTHT&TĐC của Ủy ban nhân dân thành phố C; Công văn số 1912/UBND-TN ngày 16/12/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố C và xác nhận của bà Nguy n Thị Nh, phần 16m2 đất trồng cầy lâu năm (đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là đền bù cho ông S; nguồn gốc đất của ông H nhưng ông H cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phần đất 16m2 nằm giáp lộ liền kề thửa đất ông S và ông đã sử dụng nên là của ông S; khi có quyết định bồi thường ông H cũng không khiếu nại. Do vậy, việc yêu cầu của ông H là không có căn cứ.

Bản án số 48/2017/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguy n Văn H yêu cầu ông Lê Văn S trả cho ông Nguy n Văn H số tiền là 24.600.000 đồng.

- Buộc ông Lê Văn S có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguy n Văn H số tiền là 24.600.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của ông H yêu cầu bà Nguy n Thúy H, anh Lê Dương Trung H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguy n Văn H số tiền là 24.600.000 đồng.

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguy n Văn H về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 438/QĐ-HĐBTHT&TĐC, của Hội đồng Bồi thường Hỗ trợ và Tái định cư thành phố C về số tiền 24.600.000 đồng.

- Ngoài ra còn án phí, chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 30/8/2017 ông Lê Văn S kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có Quyết định kháng nghị số 11/QĐKNPT-VKS-DS ngày 12/9/2017: Kháng nghị một phần bản án sơ thẩm số 48/2017/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C về nội dung không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C.

Tại phiên tòa phúc thẩm Ủy ban nhân dân thành phố C, bà Nguy n Thị Nh có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Đại diện nguyên đơn bà Võ Thị Nh, bị đơn Lê Văn S, Luật sư Võ Phát Tr có mặt và khẳng định đã xuất trình chứng cứ đầy đủ cho Tòa án giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, bà Nh đại diện nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thống nhất với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Phần đất được đền bù thuộc lộ giới nên nguyên đơn không sử dụng, không đăng ký quyền sử dụng đất được. Tiền 16m2 đất được đền bù là không nằm trong phạm vi diện tích đất chuyển nhượng cụ thể giữa các bên, do đó vẫn còn nguồn gốc thuộc quyền của ông H nên nguyên đơn được hưởng tiền đền bù. Về thỏa thuận nhận tiền đền bù ông S đưa lại là do tình cảm nên không có văn bản; ông S không đưa lại tiền nên mới có tranh chấp. Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn ông S trình bày đất ông nhận chuyển nhượng từ bà Nh vào năm 2007 có phần đất giáp hành lang lộ giới lộ Hòa Đông thì không có thỏa thuận là đất ông H. Sau khi chuyển nhượng đất thì ông S cất nhà, san lắp đất làm đường đi từ lộ vào nhà nhưng ông H cũng không ngăn cản hay tranh chấp đến khi có quyết định bồi thường tiền cho ông thì ông H lại phát sinh tranh chấp. Trước đó ông H có tham dự họp dân về việc đền bù tiền thu hồi đất nhưng cũng không có ý kiến tranh chấp. Nên không đồng ý trả tiền cho ông H. Bà Nh đã có xác nhận cho ông theo giấy xác nhận ngày 25/3/2015.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ý kiến: Đất ông H chuyển nhượng cho bà Nh; bà Nh chuyển nhượng cho ông S đều phải có phần đất giáp lộ giới mới thỏa thuận chuyển nhượng được. Đất được đền bù không ai được cấp quyền sử dụng đất nên quyền sở hữu người được nhận là ông S. Quy trình đền bù của nhà nước đã đúng trình tự thủ tục và cũng phù hợp với nội dung bà Nh xác nhận nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông H đối với ông S.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đúng theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án giữ nguyên kháng nghị bản án sơ thẩm. Đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NH N Đ NH CỦA TÒA N:

[1] Về nội dung: Nguồn gốc phần đất tranh chấp các đương sự nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất năm 2003, ông Nguy n Văn H chuyển nhượng cho bà Nguy n Thị Nh phần đất diện tích 76,5m2, tại thửa số 363, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã H. Năm 2007, bà Nh chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất này cho ông Lê Văn S và ông S có nhận chuyển nhượng thêm phần đất của ông Kh nên sau đó ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích tổng cộng là 141m2.

[2] Năm 2014, nhà nước tiến hành giải phóng mặt bằng, mở rộng hành lang đường bộ nên phần diện tích đất 16m2 giáp thửa đất các bên chuyển nhượng và lộ giới thuộc diện được nhận đền bù với số tiền là 24.600.000 đồng; theo hồ sơ và quyết định được đền bù thì ông S đã đứng ra nhận toàn bộ số tiền nên ông H kiện yêu cầu trả lại cho ông. êu cầu của nguyên đơn ông H được Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận nhận định căn cứ như sau: Yêu cầu khởi kiện số tiền 24.600.000đ mà ông H yêu cầu xác định quyền sở hữu và yêu cầu ông S phải giao trả lại xuất phát từ việc Ủy ban nhân dân thành phố C thu hồi phần đất diện tích 16m2 cặp lộ và liền kề với thửa 363, tờ bản đồ số 8 của ông S. Qua các lần chuyển nhượng đó đều có xác định cụ thể diện tích đất chuyển nhượng 76,5m2 mà không có phần diện tích đất này nên vẫn còn là của ông H. Căn cứ vào nguồn gốc đất trước đây là của ông H nên việc bồi thường cho ông S là không đúng đối tượng. Theo Án lệ số 02/2016/AL về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 27/2010/DSGĐT ngày 08/7/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy có tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ. Vì vậy, theo quy định tại Điều 235 Bộ luật dân sự năm 2005 và theo Án lệ số 02/2016/AL, có đủ cơ sở để xác định số tiền đang tranh chấp nói trên là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông H nên buộc ông S trả tiền cho ông H.

[3] Đối với yêu cầu của ông H yêu cầu bà H và anh H phải có nghĩa vụ liên đới với ông S trả số tiền 24.600.000đ, thì tại thời điểm ông H nhận số tiền trên thì bà H (vợ trước của ông S) đã chết. Thời điểm ông S nhận tiền đền bù thì anh H còn nhỏ tuổi, bà H mới về sống chung với ông S; ông S trình bày sử dụng cá nhân. Từ đó không buộc bà H, anh H cùng có trách nhiệm liên đới cùng ông S trả tiền cho ông H. Các đương sự không có kháng cáo phần này nên không xem xét lại.

[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy quá trình sử dụng 16m2 đất được đền bù, năm 2003 ông H chuyển nhượng cho bà Nh cũng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có chứng cứ chứng minh có thỏa thuận chừa hành lang lộ giới lại của ông H. Năm 2007 bà Nh chuyển nhượng cho ông S; do đất hầm ông S lấp cát, trồng cây sử dụng. Đến năm 2013, năm 2014 mới có quy hoạch đền bù. Ông H có phần đất kế bên có tham dự việc đền bù của nhà nước nhưng không có khiếu nại về phần đất được đền bù cho ông S.

[5] Về giấy xác nhận bà Nguy n Thị Nh ngày 22/11/2014 do ông H cung cấp chứng cứ thì không có thỏa thuận xác định vị trí đất được đền bù mà chỉ xác nhận diện tích đất chuyển nhượng chiều dài 17m, chiều ngang 4,5m ngoài phần đất trên ra còn lại của ông H. Còn nội dung Giấy xác nhận ngày 9/3/2015 và Giấy xác nhận ngày 25/3/2015 có Ủy ban nhân dân xã M xác nhận chữ ký của bà Nguy n Thị Nh do ông S cung cấp chứng cứ thì xác nhận năm 2003 bà mua đất của ông H không đề cập đến vấn đề hành lang lộ giới là bà phải mua là bởi vì bà mua đất mặt tiền thì hành lang lộ giới là thuộc của bà nếu không thì bà không mua. Biên bản lấy lời khai ngày 15/01/2018 bà Nh trình bày là khi chuyển nhượng không có trụ đá xác định ranh đất phần chuyển nhượng theo giấy chứng nhận với phần còn lại giáp hành lang lộ giới. Ông S không thừa nhận khi nhận tiền đền bù sẽ đưa lại cho ông H; ông H cũng không có chứng cứ gì chứng minh. Lời xác nhận của bà Nh, trình bày của ông S cũng phù hợp với thông lệ ý chí người nhận chuyển nhượng đất khi chuyển nhượng đất có vị trí đất giáp lộ giới thì phải đảm bảo có đường đi đất giáp lộ giới, đảm bảo cho việc sử dụng đất thì mới đồng ý nhận chuyển nhượng. Đồng thời về giá trị đất giáp mặt tiền lộ giới thì sẽ có giá trị khác nếu đất chuyển nhượng không có mặt tiền phải đi nhờ qua lối đi đất người khác. Do đó đối với diện tích đất lộ giới được đền bù giáp diện tích đất mà bà Nh, ông S nhận chuyển nhượng từ ông H, mà không được có quyền sử dụng đối với diện tích giáp lộ này thì không thể sử dụng đất, không đúng mục đích của người nhận chuyển nhượng đất; không đúng giá trị đất chuyển nhượng giữa các bên thỏa thuận.

[6] Về căn cứ các văn bản có giá trị pháp lý: Quyết định số 438/QĐ-HĐBTHT&TĐC ngày 07/11/2014 của Hội đồng Bồi thường Hỗ trợ và Tái định cư thành phố C, Quyết định số 138/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND thành phố C, Công văn số 1912/UBND-TN ngày 16/12/2015 của UBND thành phố C và xác nhận của bà Nguy n Thị Nh thì phần diện tích đất 16m2 này là đền bù cho ông S là đúng theo trình tự pháp luật quy định. Công văn số 100/CV-UBND, ngày 21/4/2016 của Ủy ban nhân dân xã H xác nhận nguồn gốc đất là của ông H chuyển nhượng đến ông S thì đất đền bù không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông H, ông S lý do đất thuộc hành lang lộ giới không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp quy hoạch làm đường ông S có giấy chứng nhận đối với diện tích đất liền kề mà ông H không có giấy nên ông S được kê khai đăng ký, thêm vào đó ông H cũng không có ý kiến, khiếu nại. ng S là người sử dụng hợp pháp từ thời điểm nhận chuyển nhượng đất của bà Nh cho đến nay. Vì vậy, quyết định bồi thường về đất cho ông S là đúng đối tượng.

[7] Việc Tòa án cấp sơ thẩm vận dụng án lệ số 02/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì về nội dung của án lệ áp dụng: Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người ở trong nước đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ mình, khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác định được chính xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất trả tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu. Do vậy việc áp dụng không chính xác, không đúng trong vụ án này.

[8] Từ những nhận định trên xét yêu cầu kháng cáo của ông S, lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn là có cơ sở. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị do bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông H không có căn cứ nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm là phù hợp pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên ông H phải chịu án phí sơ thẩm nhưng do ông là người cao tuổi nên được mi n án phí và ông S được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn S.

- Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Sửa bản án dân sự sơ thẩm 48/2017/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C.

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguy n Văn H đối với ông Lê Văn S, bà Nguy n Thúy H, anh Lê Dương Trung H cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông H số tiền là 24.600.000 đồng.

- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguy n Văn H về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 438/QĐ-HĐBTHT&TĐC ngày 07/11/2014 của Hội đồng Bồi thường Hỗ trợ và Tái định cư thành phố C về số tiền 24.600.000 đồng.

- Về án phí, chi phí tố tụng dân sự:

- Án phí, chi phí dân sự sơ thẩm:

+ ng Nguy n Văn H được nhận lại các số tiền tạm ứng án phí là 615.000 đồng theo biên lai thu số 030879 ngày 12/02/2015 và 200.000 đồng theo biên lai thu số 02442 ngày 12/7/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C.

- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Nguy n Văn H phải chịu tổng cộng là 200.000 đồng nhưng do đã nộp tạm ứng và đã chi xong nên ông H không phải nộp thêm.

+ Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Lê Văn S được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 00100 ngày 30/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ