- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƢƠNG Bản án số: 26/2017/HSST Ngày: 20/6/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Văn Quân
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Nghiêm và bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà; Ông Nguyễn Văn Hùng- Thƣ ký TAND huyện Thanh Miện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên toà: Bà: Trần Thị Chinh- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2017, tại Hội trƣờng Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng. Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng mở phiên tòa lƣu động để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2017/HSST ngày 25-5-2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 23/2017/HSST ngày 07-6-2017 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh năm 1991;
Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không
Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Phạm Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T. Có vợ Nguyễn Thu H, sinh năm 1991 và 01 con sinh năm 2016. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22-3-2017 đến ngày 24-3-2017 và chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Phạm Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Ngày 22-3-2017, Phạm Văn H đi bộ từ nhà ra đƣờng 392 đón xe buýt đến ngã tƣ B, xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dƣơng tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Khi đến nơi, H xuống xe đi bộ, gặp và mua ma túy của một ngƣời đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy đá đƣợc bọc ngoài bằng nilon màu trắng với giá 2.800.000 đồng. Sau khi nhận ma túy đá, H cất vào túi áo khoác đang mặc và xin của ngƣời này 17 đoạn ống nhựa, kích thƣớc khoảng từ 2 đến 7cm, mục đích để chia nhỏ số ma túy vừa mua. Về nhà, H chia ma túy và cho vào 17 đoạn ống nhựa, dùng bật lửa hàn kín hai đầu, sau đó cất vào hộp kim loại hình chữ nhật để trên mặt bàn. Đến 11 giờ 15 phút cùng ngày, H lấy 03 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá để vào túi áo khoác, đi ra đƣờng thôn xem có ai mua ma túy thì bán. Khi đến cổng xóm M, thôn C, xã N, huyện T, gặp một ngƣời tự khai là Nguyễn Văn H (H1) ở thôn N, xã N, huyện P, tỉnh Hƣng Yên, H1 hỏi "có ma túy không để cho 500.000 đồng), H hiểu ý H1 hỏi mua ma túy đá nên đồng ý, H1 đƣa cho Hoàn 500.000 đồng, H lấy từ trong túi áo ra 01 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá đƣa cho H1 thì bị lực lƣợng Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ 01 đoạn ống nhựa chứa chất tinh thể rắn màu trắng trong lòng bàn tay phải của Nguyễn Văn H1; 02 đoạn ống nhựa chứa chất tinh thể rắn màu trắng trong túi áo khoác của Phạm Văn H; thu giữ số tiền 500.000 đồng trong túi quần phía sau bên phải H đang mặc. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn H thu giữ tại mặt bàn trong phòng ngủ 01 hộp kim loại hình chữ nhật bên trong có 14 đoạn ống nhựa có độ dài khác nhau, mỗi ống nhựa đều chứa chất tinh thể rắn màu trắng đƣợc hàn kín hai đầu. H khai nhận mục đích cất giấu 16 đoạn đều chứa ma túy đá để bán kiếm lời.
Tại kết luận giám định số 1435/C54 ngày 31/3/2017 của Viện khoa học hình sự- Tổng cục cảnh sát kết luận: Chất tinh thể rắn màu trắng gửi đến giám định đều có Methaphetamine, trọng lƣợng cụ thể nhƣ sau: Tinh thể màu tắng thu giữ trong lòng bàn tay phải của Nguyễn Văn H1 có trọng lƣợng 0,263gam; tinh thể màu tắng thu giữ trong túi áo khoác của Phạm Văn H có tổng trọng lƣợng 0,607 gam và tinh thể rắn màu trắng thu giữ trong phòng ngủ của Phạm Văn H có tổng trọng lƣợng 2,946 gam. Methaphetamine nằm trong danh mục II, số thứ tự 67 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số 22/VKS-HS ngày 25-5-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng đã truy tố Phạm Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý". Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Phạm Văn H từ 30 đến 33 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22-3-2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng Hình sự
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc số tiền 500.000 đồng;
+ Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, màu trắng, mặt trƣớc ghi “Tổng cục cảnh sát, Viện KHHS số 1435/C54 (TT2); Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng; mặt sau có 03 dấu đỏ tƣơng ứng với 03 chữ ký của ngƣời có liên quan của Viện khoa học hình sự”, bên trong chứa 01 hộp bằng kim loại kích thƣớc khoảng (8,5x4x1,5)cm và 2,552 gam có Methaphetamine hoàn lại sau giám định.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ, ngày 22-3-2017, tại cổng xóm M, thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng. Phạm Văn H đã có hành vi bán trái phép ma túy đá cho ngƣời tự khai là Nguyễn Văn H1 thì bị bắt quả tang, thu giữ 01 đoạn ống nhựa chứa 0,263 gam Methaphetamine, thu giữ trên ngƣời và nơi ở của Phạm Văn H thu đƣợc 16 đoạn ống nhựa bên trong đều có ma túy đá, tổng trọng lƣợng 3,553 gam đều có Methaphetamine của Hoàn cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi nêu trên của Phạm Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Miện là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù nhận thức đƣợc tác hại của ma túy gây ra là rất lớn cho sức khỏe, gây tổn thất về kinh tế mà còn là nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội khác, nhƣng do lƣời lao động, muốn kiếm lời bất chính cho bản thân nên bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma tuý để rồi dấn thân vào con đƣờng phạm tội.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, vì vậy HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma tuý theo H khai mua của ngƣời đàn ông ở khu vực ngã tƣ B, xã Q, huyện G. Quá trình điều tra không xác định tên tuổi, địa chỉ của ngƣời bán ma tuý nên không có căn cứ xử lý. Đối với ngƣời mua ma túy của H tự khai là Nguyễn Văn H1, sinh năm 1980 ở thôn N, xã N, huyện P, Hƣng Yên, lợi dụng sơ hở bỏ trốn, Cơ quan CS ĐT Công an huyện Thanh Miện đã xác minh tại UBND xã N không có ai có tên, tuổi, địa chỉ nhƣ trên, Công an huyện Thanh Miện tiếp tục xác minh, truy tìm đối tƣợng, khi nào bắt đƣợc sẽ xử lý sau.
Về vật chứng: Đối với số ma tuý là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật Nhà nƣớc cấm lƣu hành và vỏ bao bì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với số tiền 500.000 đồng, đây là tiền do phạm tôi mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22-3-2017.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau khi giám định có thành phần Methaphetamine, 01 hộp bằng kim loại kích thƣớc khoảng (8,5x4x1,5)cm đựng trong bì thƣ, mặt trƣớc ghi “Tổng cục cảnh sát, Viện KHHS số 1435/C54 (TT2); Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng; mặt sau có 03 dấu đỏ tƣơng ứng với 03 chữ ký của ngƣời có liên quan của Viện khoa học hình sự”.
Tịch thu 500.000 đồng sung quỹ Nhà nƣớc.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện. Tình trạng của vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Thanh Miện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện ngày 02-6-2017).
3- Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Miện; - Công an huyện Thanh Miện; - Trại tạm giam Kim Chi-CA tỉnh HD (02 bản để giao cho bị cáo 01 bản) - Bộ phận hồ sơ cảnh sát Công an huyện Thanh Miện; - Chi cục THADS huyện Thanh Miện; - Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Lƣu hồ sơ VA; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Quân |