- Tranh chấp gì? án hình sự — "tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Hồng S, Lưu Phước A (Tên gọi khác: S), Dương Văn L và Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2017/HSST Ngày: 15/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thế Chính.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Lước;
2. Ông Phạm Văn Sữa.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017 đối với các bị cáo:
1. Phạm Hồng S, sinh ngày 16/6/1998 tại tỉnh An Giang. Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh G; tạm trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh D; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1972 và bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1978; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 30/12/2015, Công an xã Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 59/QĐ-XPVPHC xử phạt Phạm Hồng S số tiền 375.000 đồng về hành vi đánh nhau, nộp phạt ngày 11/01/2016. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/4/2017 cho đến nay. Có mặt.
2. Lưu Phước A (Tên gọi khác: S), sinh năm 1988 tại tỉnh Bình Dương. Hộ khẩu thường trú: Ấp S, xã Đ, huyện B, tỉnh D; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; con ông Lưu Văn S, sinh năm 1950 và bà Võ Thị B, sinh năm 1952 (Đã chết); tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2013/HSST ngày 31/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/4/2017 cho đến nay. Có mặt.
3. Dương Văn L, sinh năm 1995 tại tỉnh An Giang. Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã L, huyện P, tỉnh G; tạm trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh D; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; con ông Thái Văn K, không rõ năm sinh (Đã chết) và bà Dương Thị H, sinh năm 1956; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/4/2017 cho đến nay. Có mặt.
4. Nguyễn Văn N, sinh năm 1994 tại tỉnh G. Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã B, huyện C, tỉnh G; tạm trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh D; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn T, không rõ năm sinh (Đã chết) và bà Lê Thị B, sinh năm 1952; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/4/2017 cho đến nay, có mặt.
Người bị hại: Ông Đoàn Quang T, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh D. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ông Trương Quốc T, sinh năm 1974 - Luật sư Văn phòng Luật sư X thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương. Có mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Văn S, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp N, xã Q, huyện P, tỉnh G. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Bảo Q, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện P, tỉnh G. Vắng mặt.
3. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh D. Có mặt.
4. Bà Dương Thị H, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh D. Có mặt.
5. Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh D. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Phạm Hồng S và đồng phạm bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Pha ̣m Hồng S, Lưu Phướ c A, Dương Văn L và Nguyễn Văn N, Nguyễn Bảo Q, Phạm Văn S là ba ̣n của nhau. Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 26/10/2016, trong lúc đang cùng nhau uống rượu ta ̣i phòng tro ̣ của Lành ở ấp T, xa Đ, huyê ̣̃
n B, tinh D thỉ
hết thừ
́ c ăn nên A rủ L, S, N, Q và S đi qua chợ Đ trô ̣m cắp rau quả về làm thức ăn, uống rượu tiếp thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, A, S, L, N và S đi trướ c còn Q đi sau. Khi ra đến chợ Đ, A, S, L, N và S gă ̣p ông Đoàn Quang T là bảo vê ̣ chợ ngăn không cho lấy nên cả nhóm bỏ đi ra ngoài cổng chợ thi S nói: “Không cho thi đánh luôn đi”. Nghe vâ ̣y, A, L
̀
̀ và N đồng ý và cùng quay la ̣i đi vào trong chợ còn S đi qua khu vực bán trái cây đứ ng sử du ̣ng điê ̣n thoa ̣i. A, S, L và N đi vào trong chợ thi A và
̀ gă ̣p ông T, còn L đi vào giữa chợ la lớ n: “Bà con cô bác ơi cho xin mấy co ̣ng hành về nấu cháo” rồi đi la ̣i vi ̣ tri cú ̉a A, S và ông T. A tiếp tu ̣c xin hành nhưng ông T không cho và nói: “Muốn cho thi cho à
̀?”. Do ông T không cho còn chử i nên A dùng tay đấm vào mă ̣t ông T 02 cái. Tiếp đó, S liền lượm cu ̣c ga ̣ch loa ̣i ga ̣ch ống 04 lỗ trong khu chợ đánh trúng đầu ông T làm vỡ cu ̣c ga ̣ch. L và N cũng xông vào dùng tay, chân đánh ông T. Ông T và L, N, A, S đánh ra trướ c khu vực Shop quần áo B thi ông T rù
́t cây côn nhi ̣ khúc bằng gỗ trong ngườ i ra chống trả liền bi ̣ L giâ ̣t lấy rồi dùng cây côn đánh la ̣i 02 cái trúng vùng đầu, ngực làm ông T té nga xuỗ
́ng đất. Ngườ i dân xung quanh nghe đánh nhau nên mở đèn sáng lên thi ̀ cả nhóm dừ ng đánh ông T và bỏ đi. Ông T đứ ng dâ ̣y tiếp tu ̣c đuổi theo thi bi ̣ L ném cu ̣c
̀ ga ̣ch ống trú ng đầu làm ông T té nga bất tĩ
̉nh và được ngườ i dân đưa đi cấp cứ u ta ̣i bê ̣nh viê ̣n. Riêng A, N, S, L và S bỏ cha ̣y ra ngoài đườ ng nhựa thì gă ̣p Q đang đi vào chợ nên kêu Q cùng bỏ cha ̣y về nhà tro ̣ V.
Tại Kết luâ ̣n giám đi ̣nh pháp y về thương tich số
́ 412/2016/GĐPY ngày 22/11/2016 của Trung tâm Pháp y tinh Bỉ
nh Dương xác đi ̣nh tỷ lê ̣ tổn thương cơ thể do
̀
thương tích gây nên củ a ông Đoàn Quang T là 31%.
Ngày 23/3/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n Bắc Tân Uyên ra quyết đi ̣nh khở i tố vu ̣ án hình sự, khở i tố bi ̣ can và lê ̣nh bắt bị can để ta ̣m giam đối vớ i Pha ̣m Hồng S, Lưu Phướ c A, Dương Văn L và Nguyễn Văn N để điều tra về tô ̣i “Cố ý gây thương tích”.
Nguyễn Bảo Q và Phạm Văn S khi được A rủ đi qua chợ Đ kiếm rau củ về nấu cháo để tiếp tu ̣c nhâ ̣u thi cả 02 đồ
̀ng ý. Khi S, A, L và N bàn đánh ông T thi S và
̀ Q không nghe, không tham gia đánh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n Bắc Tân Uyên không xem xét xử lý.
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 16/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố Phạm Hồng S, Lưu Phước A, Dương Văn L và Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Hồng S mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lưu Phước A mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Văn L và Nguyễn Văn N, mỗi bị cáo mức hình phạt từ 05 năm đến 06 năm tù.
Về trách nhiê ̣m dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và người bị hại.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Trả lại cho Nguyễn Bảo Q 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu trắng nhan hiê ̣̃
u Mobell M269, không có nắp sau máy (Không kiểm tra bên trong) và 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu ba ̣c nhan hiê ̣̃
u Mibiistar Lai Zoro có số IEMI: 359750421376242 (Không kiểm tra bên trong máy) do không liên quan đến vu ̣ án.
Tịch thu tiêu hủy 02 thanh gỗ tròn màu đen hai đầu thanh gỗ được đấu nối vớ i nhau bằng sợi dây màu xanh ta ̣o thành hinh dà
́ng côn nhi ̣ khúc, thanh gỗ thứ nhất có chiều dài 30cm, thanh gỗ thứ hai có chiều dài 13cm, cùng đườ ng kính 03cm; trên thanh gỗ có dấu vết gãy vỡ; 01 mảnh vỡ thanh gỗ màu đen chiều dài 23cm, rô ̣ng 03cm đa thũ giữ của ông Đoàn Quang T do không còn giá tri ̣ sử du ̣ng.
Tịch thu tiêu hủy mảnh vỡ của ga ̣ch (Loa ̣i ga ̣ch 04 lỗ xây dựng); viên ga ̣ch ống (Loa ̣i ga ̣ch 04 lỗ xây dựng) còn nguyên ve ̣n; 02 chiếc dép màu trắng (Chân phải và chân trái), loại dép có 02 quai thu giữ ta ̣i hiê ̣n trườ ng do không còn giá tri ̣ sử du ̣ng.
Tịch thu tiêu hủy chất màu nâu đỏ (Nghi là máu) được thu bằng bông thấm và hong khô không có giá tri ̣ sử du ̣ng.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức và có tính chất côn đồ quy định tại các điểm a, d khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị các bị cáo liên đới bồi thường cho người bị hại số tiền còn lại là 154.453.878 đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hồng S và đồng phạm đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 26/10/2016, ta ̣i chợ Đ thuô ̣c ấp T, xa Đ, huyê ̣̃
n B, tinh D, các bị cáo Pha ̣̉
m Hồng S, Lưu Phướ c A, Dương Văn L và Nguyễn Văn N có hành vi dùng tay, ga ̣ch ống, côn nhi ̣ khúc (Là hung khi nguy hiểm) đá
́nh gây thương tich cho người bị hại Đoàń Quang T. Theo Kết luâ ̣n giám đi ̣nh pháp y về thương tich số
́ 412/2016/GĐPY ngày 22/11/2016 của Trung tâm Pháp y tinh Bỉ
nh Dương xác đi ̣nh tỷ lê ̣ tổn thương cơ thể do
̀
thương tích gây nên củ a ông Đoàn Quang T là 31%. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố các bị cáo Phạm Hồng S, Lưu Phước A, Dương Văn L và Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét vai trò các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:
Vai trò các bị cáo: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, trong đó bị cáo A, S và L là những người giữ vai trò thực hành tích cực hơn so với bị cáo N.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 31/7/2013, bị cáo Lưu Phước A bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội là thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Bị cáo S, L, N tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo A, L và N có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S, L, N; bị cáo S sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết phạm tội có tổ chức và có tính chất côn đồ quy định tại các điểm a, d khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là chưa phù hợp. Đối với đề nghị các bị cáo liên đới bồi thường cho người bị hại số tiền 154.453.878 đồng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 166.453.878 đồng (Chi phi điều tri ̣́
16.453.878 đồng, chi phi thự́
c tế ngoài hóa đơn 15.300.000 đồng, chi phi thiê ̣́
t ha ̣i và bồi thường tổn thất về tinh thần 134.700.000 đồng); gia đình các bị cáo S, L, N đã bồi thường 12.000.000 đồng cho người bị hại. Tại phiên tòa, người bị hại yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền còn lại là 154.453.878 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường. Xét sự thỏa thuận giữa các bị cáo và người bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu trắng nhan hiê ̣̃
u Mobell M269, không có nắp sau máy (Không kiểm tra bên trong); 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu ba ̣c nhan hiê ̣̃
u Mibiistar Lai Zoro có số IEMI: 359750421376242 (Không kiểm tra bên trong máy) do không liên quan đến vu ̣ án sẽ trả lại cho Nguyễn Bảo Q.
Đối với 02 thanh gỗ tròn màu đen hai đầu thanh gỗ được đấu nối vớ i nhau bằng sợi dây màu xanh ta ̣o thành hình dáng (Côn nhi ̣ khúc), thanh gỗ thứ nhất có chiều dài 30cm, thanh gỗ thứ hai có chiều dài 13cm, cùng đườ ng kinh 03cm; trên thanh gỗ có
́ dấu vết gay vỡ
̃; 01 mảnh vỡ thanh gỗ màu đen chiều dài 23cm, rô ̣ng 03cm thu giữ của ông Đoàn Quang T và mảnh vỡ của ga ̣ch (Loa ̣i ga ̣ch 4 lỗ xây dựng); viên ga ̣ch ống (Loa ̣i ga ̣ch 04 lỗ xây dựng) còn nguyên ve ̣n; 02 chiếc dép màu trắng (Chân phải và chân trái), loại dép có hai quai thu giữ ta ̣i hiê ̣n trườ ng; chất màu nâu đỏ (Nghi là máu) được thu bằng bông thấm và hong khô do không còn giá tri ̣ sử du ̣ng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Hồng S, Lưu Phước A (Tên gọi khác: S), Dương Văn L và Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt:
1.1. Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Hồng S 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/4/2017.
1.2. Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lưu Phước A (Tên gọi khác: S) 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/4/2017.
1.3. Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Dương Văn L 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/4/2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/4/2017.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc các bị cáo Phạm Hồng S, Lưu Phước A (S), Dương Văn L và Nguyễn Văn N liên đới bồi thường cho người bị hại ông Đoàn Quang T số tiền 154.453.878 đồng (Một trăm năm mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho Nguyễn Bảo Q 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu trắng nhan hiê ̣̃
u Mobell M269, không có nắp sau máy (Không kiểm tra bên trong) và 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu ba ̣c nhan hiê ̣̃
u Mibiistar Lai Zoro có số IEMI: 359750421376242 (Không kiểm tra bên trong máy).
- Tịch thu tiêu hủy:
02 thanh gỗ tròn màu đen hai đầu thanh gỗ được đấu nối vớ i nhau bằng sợi dây màu xanh ta ̣o thành hình dáng côn nhi ̣ khúc, thanh gỗ thứ nhất có chiều dài 30cm, thanh gỗ thứ hai có chiều dài 13cm, cùng dườ ng kính 03cm; trên thanh gỗ có dấu vết gãy vỡ.
01 mảnh vỡ thanh gỗ màu đen chiều dài 23cm, rô ̣ng 03cm.
Mảnh vỡ của ga ̣ch (Loa ̣i ga ̣ch 04 lỗ xây dựng).
01 viên ga ̣ch ống (Loa ̣i ga ̣ch 04 lỗ xây dựng) còn nguyên ve ̣n.
02 chiếc dép màu trắng (Chân phải và chân trái), loại dép có hai quai.
Chất màu nâu đỏ (Nghi là máu) được thu bằng bông thấm và hong khô.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2017 giữa Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 98, Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phạm Hồng S, Lưu Phước A (S), Dương Văn L và Nguyễn Văn N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Hồng S, Lưu Phước A (S), Dương Văn L và Nguyễn Văn N phải liên đới chịu 7.722.694 đồng (Bảy triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm chín mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - PV27 Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bắc Tân Uyên; - Công an huyện Bắc Tân Uyên; - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: VP, HSVA. HỘI THẨM NHÂN DÂN Đoàn Văn Lước Phạm Văn Sữa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thế Chính THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thế Chính |